Browse »
Home » Archives for tháng 8 2018
0915656777Tuy các chuẩn mực kế toán của Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu hướng dẫn khi lập Báo cáo tài chính cho doanh nghiệp, nhưng trong điều kiện hội nhập thị trường quốc tế thì chúng ta cần phải tìm hiểu, học hỏi thêm các chuẩn mực kế toán quốc tế nữa. Hiện nay chuẩn mực kế toán quốc tế gồm có 40 chuẩn mực. Để dễ dàng trong tìm hiểu về các chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế, chúng ta sẽ đi so sẽ đáng giá, so sánh 2 chuẩn mực này.
Tổng quan về chuẩn mực kế toán quốc tế và kế toán Việt Nam
Hệ thống kế toán và chuẩn mực quốc tế về kế toán (IASs/IFRSs) được soạn thảo bởi Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Nó được soạn thảo và công bố theo những quy trình rất chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của các chuẩn mực và đảm bảo tính thực hành cao. IASs/IFRSs được sử dụng rộng rãi ở khắp thế giới như châu Âu, Singapore, Hồng Kông, Úc và nhiều quốc gia trên thế giới. Rất nhiều quốc gia khác của châu Á và trên thế giới đang điều chỉnh các chuẩn mực của mình để phù hợp hơn với IFRS và giảm thiểu sự khác nhau nếu có.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng
Khác với hệ thống kế toán Việt Nam (VAS), hệ thống kế toán quốc tế (IAS) không có sự bắt buộc mang tính hình thức (như biểu mẫu báo cáo thống nhất, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, hình thức sổ kế toán, mẫu các chứng từ gốc thống nhất). IAS mặc dù đưa ra rất chi tiết các định nghĩa, phương pháp làm, cách trình bày và những thông tin bắt buộc phải trình bày trong các báo cáo tài chính nhưng IAS không bắt buộc phải sử dụng chung các biểu mẫu báo cáo tài chính, hệ thống tài khoản, các hệ thống chứng từ, sổ kế toán. IAS có bộ khung khái niệm và tính thống nhất cao giữa các chuẩn mực. VAS còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, thiếu nhiều vấn đề và đặc biệt là còn mâu thuẫn giữa các chuẩn mực hoặc sự không thống nhất giữa chuẩn mực và hướng dẫn về chuẩn mực đó.
Hầu hết những người đã được học và/hoặc làm theo các hệ thống kế toán quốc tế hay mang tính thông lệ quốc tế đều cho rằng, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất của Việt Nam chỉ nên mang tính hướng dẫn mà không nên mang tính bắt buộc. Thông lệ kế toán quốc tế cho phép ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có trong cùng một định khoản, tuy nhiên không nên lạm dụng việc ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có để mất đi tính rõ ràng của kế toán. Mặc dù không có văn bản pháp quy nào quy định cấm ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có trong cùng một định khoản kế toán, nhưng theo một thói quen từ xưa, rất nhiều DN Việt Nam vẫn tuân theo nguyên tắc này. Tuy nhiên, nhiều DN nước ngoài tại Việt Nam lại không áp dụng.
Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất của Việt Nam chỉ quan tâm chủ yếu đến thông tin của báo cáo tài chính cho các nhà đầu tư chứ chưa quan tâm đến thông tin quản trị nội bộ. Theo thông lệ quốc tế, tên gọi tài khoản chính là tên gọi ngắn gọn của số dư tài khoản hay chỉ tiêu cần quản lý. Không ghép chung nhiều chỉ tiêu khác nhau vào chung một tài khoản. Các chỉ tiêu khác nhau phải được ghi chép và báo cáo theo các tài khoản riêng biệt.
So sánh bảng cân đối kế toán
IAS khác VAS trong hầu hết khoản mục của bảng cân đối kế toán như kế toán tiền, DN ghi độc lập với ngân hàng. Các khoản phải thu thương mại tách biệt với các khoản phải thu từ bán tài sản cố định (TSCĐ). Giá thành phẩm được tính theo phương pháp giá thành thông thường hơn là thực tế và nó không chấp nhận phương pháp LIFO. Các tài sản sinh vật và sản phẩm nông nghiệp thu hoạch từ các tài sản sinh vật được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí điểm bán hàng ước tính. Các khoản chứng khoán thương mại ngắn hạn được ghi nhận theo giá trị hợp lý (giá thị trường) cuối mỗi kỳ, chênh lệch được ghi vào lãi lỗ chưa thực hiện trên báo cáo kết quả. Các khoản chứng khoán sẵn sàng để bán cũng được điều chỉnh theo giá trị hợp lý cuối kỳ, nhưng nó được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán không ghi vào báo cáo lãi lỗ. Việc nhận cổ tức bằng cổ phiếu không ghi tăng thu nhập mà chỉ thuần túy ghi bút toán ghi nhớ làm tăng số lượng cổ phiếu lên, đồng thời giảm đơn giá vốn nhưng tổng giá vốn không đổi.
Các khoản đầu tư bằng trái phiếu được ghi nhận theo giá vốn đã trừ (cộng) khấu hao chiết khấu (phụ trội). Đầu tư vào công ty liên doanh được hợp nhất theo phương pháp hợp nhất tương ứng, giải pháp thay thế là theo phương pháp vốn chủ sở hữu. VAS chỉ đưa ra phương pháp vốn chủ sở hữu. Phương pháp hợp nhất tương ứng khác với hợp nhất thông thường ở chỗ chỉ phần tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí thuộc sở hữu tập đoàn là được đưa vào trong tài khoản báo cáo. Nó không có lợi ích thiểu số (minority interests). Việc hợp nhất các báo cáo tài chính bắt buộc thực hiện cho cả báo cáo năm và báo cáo giữa niên độ.
TSCĐ có thể lựa chọn mô hình giá phí hoặc áp dụng mô hình giá trị hợp lý nếu nó có thể đo lường một cách đáng tin cậy. Chênh lệch giá trị hợp lý giữa các kỳ được ghi vào vốn chủ sở hữu. Riêng đối với bất động sản đầu tư, chênh lệch này được phép ghi vào lãi lỗ trên báo cáo kết quả. Tuy nhiên, khi dùng mô hình giá trị hợp lý, trong phần thuyết minh, DN vẫn phải thuyết minh giá gốc của nó để nhà đầu tư có thể tự đánh giá và so sánh. TSCĐ được cho tặng ghi vào thu nhập phần phù hợp với chi phí để nhận được tiền cho tặng đó (phần khấu hao của kỳ đó chẳng hạn). Khi tài sản cố định hữu hình hoặc vô hình và tài chính bị giảm giá trị, IAS yêu cầu ghi nhận ngay vào chi phí. Theo IAS, đất đai thuộc tài sản hữu hình. Các khoản phải trả thương mại được tách biệt với các khoản phải trả do mua sắm TSCĐ hay mua tài sản tài chính. Khoản phải trả bao gồm cả các khoản thưởng và chi phí phúc lợi cho nhân viên. Vốn chủ sở hữu không bao gồm các quỹ khen thưởng, phúc lợi (Theo VAS trước ngày 31.12.2009 quỹ khen thưởng phúc lợi nằm trong mục lớn Vốn chủ sở hữu, tuy nhiên theo thông tư 244/2009/TT-BTC ngày 31.12.2009 quy định vấn đề này giống như IAS). Các khoản đánh giá lại tài sản được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu.
So sánh báo cáo kết quả kinh doanh
Để việc so sánh và quản trị được tốt hơn, theo IFRSs, lãi hoạt động kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các hoạt động kinh doanh thông thường của DN, nó không bao gồm các khoản thu nhập và chi phí tài chính. Chi phí tài chính theo thông lệ quốc tế chỉ đơn giản là chi phí lãi vay và các chi phí trực tiếp liên quan đến vay tiền bao gồm cả việc lãi lỗ do thay đổi tỷ giá ngoại tệ phát sinh từ việc vay tiền như một khoản chi phí lãi vay. Các chi phí khác và thu nhập khác theo IAS bao gồm như bất động sản đầu tư theo mô hình giá trị hợp lý, các khoản chênh lệch giá trị hợp lý cuối kỳ so với đầu kỳ được ghi nhận là lãi lỗ trong báo cáo tài chính kỳ đó. Theo VAS, chỉ áp dụng phương pháp giá gốc trừ đi khấu hao lũy kế. Do vậy, không có khoản lãi, lỗ này phát sinh. Trường hợp tài sản cố định được chính phủ cho tặng, theo IAS, DN chỉ được ghi nhận như một khoản thu nhập trong các kỳ liên quan để phù hợp với các chi phí liên quan (khấu hao) mà chúng được nhận để bù đắp. Theo VAS, nó được ghi nhận toàn bộ thu nhập vào kỳ nhận được tài sản.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại thái bình
Theo IAS, lãi dùng để tính EPS cơ bản là lãi thuần thuộc các cổ đông. Nó không bao gồm các khoản lãi, nhưng được dùng để chia cho nhân viên hay đối tượng khác như quỹ khen thưởng, phúc lợi. VAS không trừ các quỹ này nên rất nhiều tình huống EPS tính theo VAS cao hơn theo IAS khá nhiều thông thường từ 5 – 15%, cá biệt có thể lên đến 30%. Theo IAS, EPS pha loãng và EPS cơ bản phải được trình bày trên bề mặt và nổi bật như nhau trên báo cáo kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay VAS chưa có thông tư hướng dẫn chi tiết, nên các DN vẫn không báo cáo EPS pha loãng trên báo cáo kết quả kinh doanh. Trường hợp chia cổ tức bằng cổ phiếu, khác với IAS, VAS chưa quy định việc điều chỉnh hồi tố EPS. Trong trường hợp đó, việc phân tích xu hướng EPS qua các năm theo số liệu EPS gốc (không điều chỉnh) sẽ bị sai lệnh rất nghiêm trọng.
Theo IAS 27, các báo cáo tài chính hợp nhất phải được lập cho các báo cáo tài chính năm và các báo cáo tài chính tạm thời giữa niên độ. Tuy nhiên, theo VAS, việc lập báo cáo tài chính hợp nhất chỉ bắt buộc đối với báo cáo năm, các báo cáo giữa niên độ chỉ mang tính khuyến khích. Điều này có nghĩa là báo cáo tài chính giữa niên độ có thể không đầy đủ và thiếu chính xác. Đây là một lỗ hổng lớn mà các nhà tạo lập chế độ kế toán phải nhanh chóng chỉnh sửa, tránh những hậu quả lớn cho các nhà đầu tư mà hiện nay họ đang phải gánh chịu. Báo cáo hợp nhất với các công ty liên doanh, theo IAS, các doanh nghiệp nên sử dụng phương pháp hợp nhất tương ứng tuy nhiên có thể sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu. VAS chỉ quy định phương pháp vốn chủ sở hữu.
So sánh báo cáo lưu chuyển tiền tệ
VAS và thông tư hướng dẫn cách lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là lấy từ sổ quỹ tiền mặt và sổ cái tiền gửi ngân hàng tương ứng với các tài khoản đối ứng. Theo thông lệ quốc tế, việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) chỉ căn cứ thuần túy các số liệu trên bảng cân đối kế toán số đầu kỳ và cuối kỳ, báo cáo kết quả (và có thể có thêm một vài thông tin từ sổ cái) sau đó làm các động tác điều chỉnh là ra các chỉ tiêu trên báo cáo LCTT.
VAS hướng dẫn cách lập báo cáo LCTT theo phương pháp gián tiếp bắt đầu từ lãi trước thuế cộng trừ các khoản điều chỉnh trong đó có chênh lệch các khoản phải trả. Mặc dù trong quy định về báo cáo đã yêu cầu các khoản phải trả này không bao gồm các khoản phải trả liên quan đến hoạt động đầu tư và tài chính. Tuy nhiên, do Tài khoản 331 Phải trả cho người bán bao gồm các khoản phải trả thương mại do mua hàng hóa, nguyên liệu cho sản xuất và phải trả cho việc mua sắm tài sản cố định hay mua khác. Khi lập báo cáo LCTT, kế toán viên chỉ lấy số dư cuối kỳ trừ số dư đầu kỳ của Tài khoản 331 này. Do vậy nó làm cho dòng tiền từ hoạt động kinh doanh lẫn lộn với dòng tiền từ hoạt động đầu tư.
Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại hải dương
Theo ke-toan
[Read More...]
Những khó khăn kéo dài của nền kinh tế, cùng với nhu cầu vận tải đường biển giảm sút trong khi chi phí tăng cao đã khiến các DN vận tải biển rơi vào tình cảnh thu không đủ bù chi.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Tàu VINASHIP PEARL của Công ty cổ phần vận tải biển VINASHIP bốc hàng tại Cảng Hải Phòng. Ảnh: ST
Hiện đã có tới 3 cổ phiếu vận tải biển niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (VOS, VST và VNA) cùng ở trong tình trạng bị kiểm soát do có kết quả kinh doanh thua lỗ trong 2 năm liên tiếp.
Điệp khúc chi phí cao, giá cước thấp
Báo cáo thường niên của Công ty CP Vận tải và Thuê tàu biển Việt Nam (VST) cho biết, năm 2013 công ty kinh doanh trong điều kiện còn khó khăn hơn cả 2012 và những năm trước đó. Cụ thể, tất cả các tuyến đều thua lỗ, chi phí ngày tàu 7.000-11.000 USD trong khi thu về chỉ được 3.000-5000 USD. Hàng loạt các biện pháp đối phó đã được thực hiện nhằm tăng thu, tiết kiệm tối đa chi phí, bán tàu để trả nợ và có vốn duy trì sản xuất … Tuy nhiên, do chịu nhiều ảnh hưởng từ thị trường vận tải biển thế giới, đồng thời không được hưởng chính sách giảm khấu hao như năm 2012 nên kết quả kinh doanh của công ty năm 2013 vẫn lỗ. Theo đó, năm 2013, VST đạt 1.354 tỷ đồng doanh thu, lợi nhuận trước thuế âm 223 tỷ đồng.
Công ty CP Vận tải Vinaship (VNA) cũng cho hay, trong năm 2013, tại thị trường khai thác truyền thống của VNA là Đông Nam Á, mặt hàng gạo xuất khẩu từ Việt Nam đi một số thị trường như Philippines, Malaysia, Indonesia hầu như rất nhỏ. Bên cạnh đó, hiện VNA đang có 3 trên tổng số 13 chiếc tàu đã trên 25 tuổi. Thực trạng đội tàu già và trọng tải nhỏ làm phát sinh các chi phí sửa chữa, khai thác, bảo hiểm, chi phí quản lý… và hạn chế khả năng cạnh tranh. Cùng với đó, tàu khai thác định hạn ở những tuyến xa, khả năng cung ứng vật tư trang thiết bị, sửa chữa, bảo dưỡng, duy trì trạng thái tàu, ngăn ngừa đề phòng sự cố còn nhiều bất cập dẫn đến việc phát sinh hư hỏng, sự cố kỹ thuật, giảm tốc độ làm ảnh hưởng đến ngày tàu tốt, phát sinh khấu trừ offline từ người thuê định hạn.
Do kết quả kinh doanh lỗ trong các năm trở lại đây dẫn đến nguồn vốn bị giảm, VNA đã phải khắc phục bằng cách huy động vốn vay ngắn hạn từ các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và từ cán bộ, nhân viên trong công ty để bổ sung nguồn vốn lưu động bị thiếu hụt. Việc vay ngắn hạn vốn lưu động khiến chi phí tài chính của Công ty tăng cao. Bởi các lẽ trên, năm 2013 công ty chỉ thu về 681 tỷ đồng doanh thu, lợi nhuận trước thuế tiếp tục âm năm thứ 2 liên tiếp với mức âm 108 tỷ đồng.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng
Đồng cảnh ngộ với VST và VNA, Công ty CP Vận tải biển Việt Nam (VOS) cũng lỗ 187 tỷ đồng trong năm 2013. Theo VOS, chi phí tài chính của công ty liên tục tăng qua các năm tăng, đạt 194 tỷ đồng trong năm 2012 và 234 tỷ đồng trong năm 2013. Trong đó chi phí lãi vay dài hạn ngân hàng tăng cao đã gây rất nhiều khó khăn cho công ty (năm 2012 là 152 tỷ đồng, năm 2013 là 164 tỷ đồng). Chi phí lãi vay dài hạn của VOS trong năm 2013 tăng cao hơn năm 2012 là do năm 2012 công ty có 1 tàu hàng khô đóng mới trong nước Vosco Sunrise vẫn đang trong giai đoạn thi công nên chi phí vay dài hạn không đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh. Cụ thể, từ khi nhận bàn giao tàu vào ngày 15-5-2013 đến ngày 31-12-2013, chi phí lãi vay VOS phải trả cho tàu này là 34,27 tỷ đồng.
Giải pháp bán tàu, giảm lương
Theo dự báo của các công ty vận tải biển, năm 2014, kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng mạnh mẽ so với 2013. Nhờ đó nhu cầu vận chuyển năm 2014 dự kiến tăng khoảng 6%. Tuy nhiên, do tình trạng mất cân bằng cung cầu còn khá lớn từ việc đầu tư ồ ạt những năm qua mà thị trường cước 2014 dự báo vẫn còn ở mức thấp và chưa thể hồi phục thật sự, nhất là những tháng đầu năm. Cùng với đó, tình trạng chờ cầu, chờ hàng vẫn còn tiếp diễn nên việc kinh doanh vận tải biển dự báo tiếp tục khó khăn. Hơn nữa, cạnh tranh giữa các chủ tàu sẽ càng gay gắt khi ngày càng nhiều tàu đóng mới hiện đại, tiết kiệm nhiên liệu và thân thiện với môi trường được đưa vào khai thác.
Trước tình hình đó, Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2014 của VST đã thông qua kế hoạch lỗ cho năm 2014, số lỗ dự kiến sẽ là 179 tỷ đồng. Ngoài ra, công ty cũng có kế hoạch bán 2 chiếc tàu Viễn Đông 3 và VTC Sky. Theo VST, việc bán tàu giúp công ty thu được 1 phần lợi nhuận khác và cắt lỗ nhằm cải thiện kết quả kinh doanh (năm 2014 dự kiến Viễn Đông 3 lỗ 7,8 tỷ và VTC Sky lỗ 9,5 tỷ đồng). Điều này cũng giúp công ty cải thiện tình hình tài chính, giảm nợ và lãi vay, có nguồn bổ sung vốn lưu động để duy trì hoạt động đội tàu an toàn. Đối với VNA, dự kiến doanh thu năm 2014 là 725 tỷ đồng, công ty chưa đưa ra chỉ tiêu lợi nhuận cụ thể cho năm 2014. VNA cũng cho hay, nếu thị trường có chuyển biến thuận lợi công ty sẽ bán 1 đến 2 tàu cũ không hiệu quả.
Tại VOS, năm 2013, ban lãnh đạo công ty đã thực hiện việc điều chỉnh giảm lương của cả khối phòng ban quản lý và thuyền viên đang làm việc trên các tàu với mức giảm từ 5 – 10% nhằm giảm bớt khó khăn về tài chính của công ty. Theo kế hoạch, trong thời gian tới, VOS sẽ thực hiện một số biện pháp để đảm bảo mục tiêu tối thiểu phải cân bằng được thu chi trong năm 2014. Một trong các biện pháp được thực hiện là thanh lý thêm 1 đến 2 tàu đã hết thời gian khấu hao, thực hiện bán một số bất động sản sử dụng không hiệu quả tại một số chi nhánh vào thời điểm thích hợp để góp phần cải thiện kết quả kinh doanh, quyết tâm cân bằng thu chi và tiến tới có lãi trong năm 2014 và 2015.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận đống đa
Nguồn Báo Hải Quan
[Read More...]
Lãnh đạo Vụ Pháp chế (Bộ Tài chính) khẳng định, không có chuyện phát sinh thêm loại phí mới “hành” người dân. Đồng thời, chuyện thu phí, lệ phí đảm bảo nguyên tắc không trùng, không tùy tiện.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải dương
Thu phí, lệ phí đảm bảo nguyên tắc không trùng, không tùy tiện. Nguồn: internet
Sáng 11/4, Bộ Tài chính đã tổ chức họp báo làm rõ thêm một số thông tin liên quan tới Pháp lệnh Phí và Lệ phí, cũng như câu chuyện thu “phí trùng phí” tại nhiều bộ, ngành, địa phương hiện nay.
Phí “làng”, lệ làng… không phải là phí
Theo Bộ Tài chính, danh mục các loại phí, lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh Phí và Lệ phí năm 2002 gồm 301 khoản phí và lệ phí. Nhưng trong thực tế chỉ có 280 khoản phí, lệ phí được thực hiện, còn 21 khoản vẫn trong diện chưa thu do chưa phát sinh trong thực tế.
Ngoài 20 khoản phí Chính phủ đã phân cấp thực hiện cho HĐND cấp tỉnh, Chính phủ còn phân cấp thêm cho địa phương quyết định mức thu và quản lý, sử dụng đối với các khoản phí khác, như: phí thủy lợi, học phí, viện phí, phí bảo vệ môi trường… Đây cũng chính là nguyên do phát sinh những tiêu cực trong thu phí tại các địa phương hiện nay.
Bộ Tài chính cũng thừa nhận, trong quá trình thực hiện Pháp lệnh có ý kiến phản ánh về tình trạng chậm bãi bỏ các khoản phí, lệ phí không đúng quy định, hoặc ban hành không đúng danh mục tại một số địa phương.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Trọng Nghĩa - Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Tài chính) lại cho rằng, nếu nói theo lối dân gian thì “vừa gà vừa chó bó lại cho tròn” nhiều người sẽ tá hỏa vì sao mà lắm loại phí thế, song thực tế không phải thế. Tùy từng hành vi sẽ chịu sự điều chỉnh của từng loại phí, lệ phí khác nhau.
“Đố ai tìm được một doanh nghiệp nào chịu tất tần tật các loại phí, lệ phí. Không có đâu! Anh không vào bến cảng thì làm sao phải chịu phí bốc dỡ ở cảng, phí truyền tải container… Còn những loại phí ở làng, xã… là phí tự nguyện không phải là phí chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Chúng tôi khẳng định trong quá trình thực hiện thu phí, lệ phí theo Pháp lệnh không phát sinh loại phí mới, cũng không thu tùy tiện, thu trùng”- ông Nghĩa cam đoan.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng
Với những trường hợp bộ, ngành, địa phương đề xuất “đẻ” thêm nhiều loại phí, lệ phí, ông Nghĩa cho hay, nhu cầu, ý tưởng bao giờ cũng rất phong phú, nhưng phí ban hành bắt buộc phải có trong danh mục nhóm của Pháp lệnh và chi tiết theo Nghị định của Chính phủ. Để ra được một loại phí mới đòi hỏi phải phê duyệt ở cấp cao pháp lý cao hơn và phải có đánh giá tác động các loại phí này tới xã hội.
“Dù bộ, ngành hay địa phương nào đó có đề xuất thêm loại phí thì cũng không có cơ sở pháp lý nào để ban hành”- ông Nguyễn Trọng Nghĩa nói thêm.
Để việc quản lý thu phí, lệ phí được chặt chẽ hơn, tới đây Pháp lệnh Phí và Lệ phí sẽ được nâng lên thành Luật Phí và Lệ phí.
Phí, lệ phí thu không trùng, không tùy tiện
Trên thực tế, chưa bao giờ người dân phải nộp và có lẽ sẽ còn phải nộp nhiều loại phí và lệ phí với mức thu cao như hiện nay. Ngành chức năng cứ đưa ra mức thu và người dân chỉ biết nộp mà không có sự lựa chọn nào khác bởi hầu hết các khoản phí, lệ phí đều đánh vào tiêu dùng thiết yếu và cũng không biết kêu ai. Dù lãnh đạo Bộ Tài chính khẳng định, không có chuyện thu phí trùng phí gây khó cho người dân, doanh nghiệp, song những câu chuyện cụ thể đang diễn ra trong thực tế lại đặt ra nhiều dấu hỏi.
Đơn cử, chuyện thu phí bảo trì đường bộ đã được áp dụng từ 1/1/2013, nhưng dư luận vẫn không ngớt đặt nghi vấn, cơ quan chức năng đã cố tình “đẻ” thêm ra loại phí, cố tình thu "phí chồng phí" để người dân “gánh” đủ. Sự chồng chéo nằm ngay trong quy định của pháp luật, khi theo Nghị định 18 của Chính phủ, ngoài dự án BOT phải thu phí, những tuyến đường xây dựng theo ngân sách thì không thu phí. Nhưng thực tế có nhiều tuyến đường cao tốc xây dựng bằng vốn ngân sách, vốn ODA vẫn thu phí, như cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên không thu phí, nhưng cao tốc Hà Nội – Lào Cai lại thu phí….
“Ở đây không hề có chuyện thu phí trùng phí”- ông Lợi quả quyết và giải thích về dòng phí vẫn là phí sử dụng đường bộ, chỉ thay đổi cách thu. Trước kia danh mục Pháp lệnh quy định đây là phí sử dụng đường bộ, thế nhưng khi có Nghị định 18 của Chính phủ lại quy định cách thu theo đầu phương tiện để dùng số tiền này làm nguồn cho Quỹ Bảo trì đường bộ.
Trước đây, các dự án được đầu tư bằng ngân sách Nhà nước phí sẽ được thu qua trạm, tiền thu được dùng để bảo trì đường bộ. Đối với đường, trạm được đầu tư theo hình thức BOT thì vẫn thu qua trạm BOT, nhưng tiền này để dùng hoàn vốn đầu tư.
“Một số dự án đầu tư ngân sách nhưng là tiền đi vay ODA thì khi lập dự án cũng phải đưa ra phương án hoàn vốn để trả vốn vay. Ở đây Nhà nước đóng vai trò chủ đầu tư đứng ra vay nên phải thu phí để hoàn vốn trả nợ. Nếu đứng ra vay mà không có phương án hoàn vốn thì chẳng ai cho vay cả”- ông Lợi cắt nghĩa.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại gia lâm
Theo TCTC
[Read More...]
Trên thế giới có nhiều mô hình tổ chức bộ máy kế toán ngân sách nhà nước khác nhau phù hợp với đặc điểm và tập quán của từng quốc gia. Vì vậy, việc tổ chức hệ thống kế toán là xác định vị trí và trách nhiệm của các đối tượng tham gia vào việc chấp hành các nghiệp vụ tài chính nhà nước, là một trong những điểm then chốt nhất trong quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống kế toán ngân sách nhà nước hiện nay ở VN.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hoàng mai
Đối với nguyên tắc bất kiêm nhiệm giữa người ra quyết định thực hiện nghiệp vụ tài chính nhà nước và người chấp hành quyết định đó có nhiều ưu điểm và có thể thực hiện được vì những lý do sau:
Một là: Về mặt kỹ thuật, nguyên tắc này cho phép việc phân công, chia sẻ công việc trong việc chấp hành nghiệp vụ tài chính và chính nhờ sự phân công ấy tạo nên hai tác nhân độc lập để có thể kiểm soát lẫn nhau trong quá trình thực hiện.
Hai là: Cơ quan ra quyết định sẽ không phải tổ chức công việc kế toán, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nên có thể tập trung và thực hiện công tác chuyên môn để lựa chọn quyết định chi tiêu hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm hơn.
Ba là: Cơ quan chuyên môn trong việc tổ chức hạch toán kế toán các nghiệp vụ kinh tế có trách nhiệm thực hiện thu, chi và phản ánh trung thực các nghiệp vụ tài chính theo yêu cầu của cơ quan ra quyết định; kiểm tra các quyết định tài chính trên cơ sở quy định của pháp luật tài chính hiện hành trước khi thực hiện quyết định đồng thời lập và cung cấp các báo cáo tài chính một cách khách quan cho các đơn vị sử dụng thông tin thu, chi ngân sách nhà nước.
Bốn là: Trong điều kiện thực tế của VN, do ý thức chấp hành luật pháp còn hạn chế, các chế tài kỷ luật trong lĩnh vực tài chính còn chưa nghiêm, tình trạng thực hiện chi tiêu và tập trung các khoản thu của ngân sách vượt ra ngoài khuôn khổ của chế độ, tiêu chuẩn, định mức cho phép còn diễn ra phổ biến thì việc tăng cường kiểm soát và quản lý tập trung vẫn là một yêu cầu mang tính nguyên tắc. Việc phân cấp tổ chức công tác kế toán đồng thời với chủ trương phân cấp quản lý, giao quyền nhiều hơn cùng với tăng cường trách nhiệm của các đơn vị sử dụng ngân sách theo xu hướng hiện nay mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý tài chính nói chung và trong công tác kế toán ngân sách nói riêng.
Thực tế hiện nay, về mặt tổ chức kế toán ngân sách khi phân cấp chúng ta áp dụng hình thức kế toán tập trung và kế toán phân tán thì có thể vẫn duy trì kế toán ở các đơn vị hành chính sự nghiệp song cán bộ và bộ máy kế toán ở các đơn vị nên độc lập với thủ trưởng của đơn vị nhưng trực thuộc cơ quan kế toán của Nhà nước (không phân cấp tổ chức). Chức năng kế toán này giao cho Kho bạc Nhà nước đảm nhiệm như hiện nay là hợp lý cả trên phương diện kiểm soát, thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhà nước và phương diện về điều kiện vật chất để tổ chức hạch toán kế toán.
Ngoài ra, trong tổ chức bộ máy kế toán nhà nước là phân biệt kế toán của các cơ quan hành chính và kế toán của các đơn vị sự nghiệp. Đối với các cơ quan hành chính thuần túy, nguyên tắc này có thể thực hiện kể cả trong điều kiện phải phân cấp về mặt kỹ thuật. Riêng đối với các đơn vị sự nghiệp và nhất là các đơn vị sự nghiệp tự cân đối thu chi, có thể tách kế toán của các đơn vị này ra khỏi hệ thống kế toán nhà nước và có thể áp dụng như kế toán doanh nghiệp.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại nam định
Nguyên tắc không kiêm nhiệm liên quan mật thiết đến tổ chức bộ máy kế toán nhà nước. Theo đó, việc bất kiêm nhiệm giữa người ra quyết định tài chính và kế toán sẽ dẫn đến việc hình thành một cơ quan kế toán tập trung, thống nhất. Lợi ích của kế toán tập trung thì có nhiều và với điều kiện thực tế của VN, kế toán tập trung sẽ là mô hình tổ chức kế toán mang tính nguyên tắc. Bên cạnh đó, cần phải thừa nhận việc Nhà nước ngày càng phân cấp và phân quyền quản lý tài chính sâu hơn, rộng hơn. Điều đó đòi hỏi kế toán nhà nước cần có những thay đổi trong tổ chức bộ máy. Kế toán các đơn vị hành chính thuần túy vẫn có thể thực hiện theo nguyên tắc kế toán tập trung và nguyên tắc bất kiêm nhiệm nhưng đối với các đơn vị sự nghiệp, việc tổ chức kế toán phân tán ở các đơn vị này sẽ ngày càng hình thành rõ nét cùng với xu thế phân cấp quản lý các dịch vụ công.
Chúng ta nên phân biệt và áp dụng hai nguyên tắc là kế toán ngân sách theo phương pháp tiền mặt và kế toán tài sản theo phương pháp dồn tích. Vấn đề này không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn liên quan chặt chẽ tới tổ chức hệ thống kế toán nhà nước.
Một là: Đối với kế toán ngân sách, mặc dù hiện nay việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đã ngày càng mở rộng, song đặc điểm quản lý ngân sách nhà nước vẫn mang tính tập trung khá rõ nét. Điều này thể hiện ở việc chính quyền cấp trên vẫn nắm quyền kiểm soát và ảnh hưởng tới ngân sách chính quyền cấp dưới và cụ thể hơn là tính chất lồng ghép ngân sách đã được quy định trong Thông tư số 59/2004/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 60/2003/NĐ-TTg hướng dẫn chi tiết thi hành Luật ngân sách nhà nước.
Hiện nay, ngân sách lồng ghép như vậy nhưng nhu cầu thông tin về ngân sách ở mỗi cấp chính quyền lại khác nhau. Thường tại từng cấp ngân sách, nhu cầu thông tin đặt ra rất chi tiết nhưng ở cơ quan tài chính cấp trên, thông tin chi tiết về ngân sách cấp dưới không phải bao giờ cũng cần thiết. Đây là lý do cần kết hợp tổ chức kế toán tập trung và tổ chức kế toán phân tán trong phân hệ kế toán ngân sách. Cần xác định thông tin gì cần tập trung lên ngân sách cấp trên, thông tin gì chỉ mang tính quản lý, điều hành tại từng cấp ngân sách và thông tin gì cần cho các đơn vị sử dụng ngân sách.
Hai là: Đối với kế toán tài sản theo nguyên tắc dồn tích thì đây là loại kế toán có nhiệm vụ phản ánh đầy đủ tình hình tài sản nợ, tài sản có của một đơn vị kế toán; mặt khác mỗi đơn vị kế toán ra đời lại xuất phát từ yêu cầu phân cấp quản lý, vì thế việc tổ chức hệ thống kế toán này phải kết hợp được nhu cầu thông tin chung đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu quản lý cụ thể của từng đơn vị kế toán
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải dương
Theo diendanketoan
[Read More...]
Thị trường chứng khoán đang trong nhịp điều chỉnh giảm của xu thế ngắn hạn. Mặc dù chỉ số thị trường đã có hồi phục, nhưng khối lượng giao dịch thấp cho thấy rủi ro giảm điểm vẫn cao. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm thuận lợi cho các nhà đầu tư (NĐT) lựa chọn và mua vào những cổ phiếu tốt, kết quả kinh doanh (KQKD) khả quan trong năm 2014.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại nguyễn chính thanh đống đa
Thị trường điều chỉnh là cơ hội đầu tư dài hạn vào cổ phiếu ngành dược.
Nút thắt khối lượng
Sau phiên mất điểm mạnh ngày 18/4, khối lượng giao dịch trên HSX đã sụt giảm xuống dưới ngưỡng 100 triệu đơn vị/phiên. Thậm chí đến phiên ngày 24/4, khối lượng giao dịch chỉ còn 56,6 triệu đơn vị. Việc khối lượng giao dịch liên tục suy giảm nhanh cho thấy tâm lý của NĐT ở cả 2 phía mua và bán đều hết sức thận trọng. Phía người bán e dè thị trường đã giảm đủ sâu, và nhiều khả năng sẽ bán cổ phiếu đúng vào vùng đáy của đợt điều chỉnh ngắn hạn này.
Còn về phía người mua thì không thấy có thông tin hỗ trợ nào đáng kể để sẵn sàng xuống tiền mua cổ phiếu. Dường như mọi chú ý đang dồn về KQKD quý I và diễn biến từ đại hội cổ đông của doanh nghiệp (DN) khi giữa các nhóm cổ phiếu đang có sự phân hóa khá rõ nét.
Theo đánh giá của các công ty chứng khoán (CTCK), chừng nào nút thắt khối lượng chưa được giải tỏa thì thị trường vẫn còn tiếp tục ở trạng thái giằng co trong 1-2 tuần tiếp theo để tạo một nền tảng giá mới trước khi có thể đảo chiều tăng điểm.
Dài hạn với cổ phiếu dược
Nếu như việc trading ngắn hạn gặp nhiều rủi ro và cũng ít cơ hội, thì hành động hợp lý đối với nhiều NĐT là tìm kiếm và gia tăng sở hữu với cổ phiếu thực sự tốt, tiềm năng trong dài hạn. Nhìn vào diễn biến các cổ phiếu trong thời gian qua cũng như triển vọng kinh doanh, nhiều CTCK khuyến nghị các NĐT dành phần vốn cho các cổ phiếu dược với 2 đại diện DHG và IMP.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải dương
Tại báo cáo thăm DN, CTCK KimengMaybank đánh giá, mặc dù KQKD quý I không đạt mục tiêu, nhưng triển vọng cả năm 2014 của IMP vẫn rất khả quan. Cụ thể, doanh thu thuần đạt 174,7 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 27,7 tỉ đồng, bằng 23% kế hoạch cả năm.
Lý giải cho KQKD quý I thấp, KimengMaybank cho biết, do ảnh hưởng từ thông tư 01 của Bộ Y tế nên doanh thu mảng ETC (thuốc kê đơn) giảm mạnh. Tuy nhiên, IMP cũng đang chuyển hướng mạnh sang mảng OTC (thuốc không kê đơn). VCBS đánh giá việc kết quả quý I chậm hơn so với kế hoạch cũng là điều thường gặp ở các Công ty Dược sau thời gian nghỉ Tết kéo dài. Để bù đắp sự suy giảm của mảng ETC, IMP cũng đã hướng tới gia công xuất khẩu với mục tiêu lấp đầy công suất nhà máy.
“Doanh thu xuất khẩu nhiều khả năng sẽ đạt trên 1 triệu USD với các hợp đồng ký sau Tết âm lịch” – báo cáo phân tích VCBS nhận định.
Còn KimengMaybank cho rằng, với cơ sở kênh OTC đã được phát triển cùng kế hoạch phát hành tăng vốn để phát triển hệ thống phân phối ra miền Trung và miền Bắc, khả năng hoạt động IMP sẽ khả quan hơn năm 2013. Tuy nhiên, với sự thận trọng trong đánh giá, KimengMaybank cho rằng IMP đạt LNTT khoảng 117 tỉ đồng, EPS điều chỉnh sau phát hành là 3.151 đồng/cổ phiếu. Với giá sau phát hành 37.000 đồng/cổ phiếu thì P/E chỉ 10 lần thấp hơn mức 14 lần bình quân ngành. Với EPS như vậy, Kimeng định giá IMP là 66.000 đồng/cổ phiếu và giá đóng cửa ngày 24/4 của IMP là 56.500 đồng/cổ phiếu.
Khác với IMP, trường hợp của DHG được CTCK Bản Việt – VCSC đánh giá khả quan nhờ nhà máy mới bắt đầu đi vào hoạt động trong năm 2014, giúp Công ty tăng trưởng EPS ổn định 14%/năm cho đến 2018. Lợi nhuận ròng dự kiến sẽ tăng 7% so với năm 2013. Tuy nhiên, năm 2013 DHG nhận khoản lợi nhuận bất thường từ chuyển nhượng nhãn hàng Eugica, nên nếu không tính khoản lợi nhuận này thì năm 2014 lợi nhuận ròng tăng 27%.
Để có được mức tăng trưởng khả quan như vậy, DHG sẽ tiếp tục tối ưu hóa hệ thống phân phối và đặt mục tiêu giữ cho chi phí SG&A ở mức 22% doanh thu thuần. Đồng thời để giảm tiền thuế thu nhập DN, DHG dự kiến chuyển 80% hoạt động sản xuất từ nhà máy cũ sang nhà máy mới, do nhà máy mới được miễn thuế từ năm 2014-2017.
Không chỉ hấp dẫn bởi nền tảng kinh doanh bền vững, DHG được đánh giá cao bởi cổ tức bằng tiền mặt 2013 là 3.000 đồng/cổ phiếu và cổ phiếu thưởng tỉ lệ 3:1. Với tiền mặt nhiều, dự kiến cổ tức 2014 bằng tiền có thể lên 4.000 đồng/cổ phiếu.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận ba đình
Đánh giá về triển vọng kinh doanh 2014, VCSC dự phòng EPS của DHG năm 2014 là 9.683 đồng/cổ phiếu, chưa tính đến cổ phiếu thưởng 3:1 dự kiến được đề xuất tại ĐHCĐ. Với giá giao dịch hiện tại, P/E của DHG ở mức rất thấp là 14,7 lần - thấp thấp hơn mức 17,2 lần của các Công ty có cùng vị thế tại các thị trường mới nổi. Vì thế, VCSC đặt giá mục tiêu cho DHG là 158.000 đồng/cổ phiếu - cao hơn 12% so với mức giá đóng cửa ngày 24/4.
Theo TCTC
[Read More...]
Phần lớn các doanh nghiệp cho rằng, sinh viên ngành Kế toán mới tốt nghiệp ra trường đều phải đào tạo lại mới phù hợp được với nhu cầu thực tế tại doanh nghiệp được tuyển dụng. Nguyên nhân chính là do các trường đại học, cao đẳng hiện nay chỉ đào tạo chú trọng về lý thuyết mà chưa chú trọng đến việc gắn lý thuyết với thực hành… Bài viết trao đổi một số vấn đề về đổi mới phương pháp giảng dạy môn học kế toán tài chính tại các trường cao đẳng, đại học để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể đáp ứng được ngay nhu cầu xã hội đang cần.
Cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy và học
Để hiểu rõ hơn về đổi mới phương pháp dạy và học tại các trường cao đẳng, đại học, cần chú ý tới các vấn đề như: Đặc điểm của phương pháp dạy và học; quan điểm dạy học, phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học.
- Khái niệm và một số đặc điểm của phương pháp dạy và học: Theo Trần Khánh Đức (2013), phương pháp dạy học là một phạm trù của khoa học giáo dục. Việc đổi mới phương pháp dạy học cần dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn giáo dục. Trong thực tiễn cần xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể để xác định và áp dụng những định hướng, biện pháp thích hợp.
Dựa trên khái niệm chung về phương pháp dạy học, có thể hiểu, đổi mới phương pháp dạy học là cải tiến những hình thức và cách thức làm việc kém hiệu quả của người dạy và người học, sử dụng những hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực của người học.
Theo Đinh Văn Tiến – Ulrich Lipp (2003), phương pháp dạy học có một số đặc điểm cơ bản sau: Định hướng thực hiện mục tiêu dạy học; Là sự thống nhất của phương pháp dạy và phương pháp học; Thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục; Là sự thống nhất của 1ogic nội dung dạy học và logic tâm lý nhận thức. Phương pháp dạy học có mặt khách quan và mặt chủ quan, là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học.
- Quan điểm dạy học, phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học: Lê Công Triêm và Cộng sự (2002), quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học đại cương hay chuyên ngành, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của người dạy và người học trong quá trình dạy học. Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược dài hạn, có tính cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại nguyễn chính thanh đống đa
Bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại, biểu diễn trực quan, làm mẫu, có thể kể ra một số phương pháp khác như: Nghiên cứu trường hợp, điều phối, đóng vai…
Kỹ thuật dạy học là những động tác, cách thức hành động của của người dạy và người học trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Bên cạnh những kỹ thuật dạy học thông thường, ngày nay người ta đặc biệt chú trọng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, ví dụ: Kỹ thuật “động não’’, kỹ thuật “tia chớp”, kỹ thuật lược đồ tư duy.
Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang hướng tới phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học; Chuyển trọng tâm hoạt động từ giảng viên sang sinh viên; Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống; Cải tiến việc kiểm tra và đánh giá kiến thức; Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời. Trong các xu hướng này, việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của sinh viên là xu hướng quan trọng về phương pháp dạy và học hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp định tính thông qua lấy ý kiến của các chuyên gia, các giảng viên đang giảng dạy học phần môn kế toán tài chính, các em sinh viên đã học môn kế toán tài chính trong học kỳ 1 năm học 2016- 2017 vừa qua tại một số trường đại học, cao đẳng khu vực TP. Hồ Chí Minh và các cán bộ đang làm công tác kế toán tại các doanh nghiệp hiện nay. Sau đó, tác giả sử dụng phần mềm Excel để thống kê, tổng hợp bảng số liệu nhằm đánh giá thực trạng việc dạy và học học phẩn kế toán tài chính hiện nay ở các cơ sở đào tạo.
Thông qua quá trình khảo sát bảng câu hỏi gởi đến các đối tượng có liên quan, tác giả đã kết hợp 3 loại mẫu khảo sát để thống kê kết quả: (i) Giảng viên đang tham gia giảng dạy môn kế toán tài chính tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay ở khu vực TP. Hồ Chí Minh 63 mẫu hợp lệ (số mẫu gửi đi 75); (ii) Các cán bộ lãnh đạo và làm công tác kế toán thực tế tại các doanh nghiệp 42 mẫu hợp lệ (số mẫu gửi đi 50); (iii) Các em sinh viên ngành kinh tế đã và đang học môn kế toán tài chính 172 mẫu (số mẫu gửi đi 190).
Kết quả khảo sát cho thấy, giảng viên dạy học phần kế toán tài chính tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay bước đầu đã sử dụng các phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực mới chỉ ở mức không thường xuyên, trong đó phương pháp dạy học theo dự án thì hầu như là không sử dụng (thường xuyên 6,35%; không thường xuyên 19,05%; không có sử dụng 74,60%).
Kết quả khảo sát cũng cho biết, mức độ sử dụng phương pháp dạy học tích cực qua đánh giá của sinh viên giảng viên có sử dụng dạy phương pháp dạy học tích cực, tuy nhiên cũng chỉ ở mức không thường xuyên. Đặc biệt, ở phương pháp dạy học theo dự án sinh viên cho rằng giảng viên vẫn rất ít áp dụng (thường xuyên 1,16%; không thường xuyên 4,07%; không có sử dụng 94,77%)…
Như vậy, phương pháp dạy học môn kế toán tài chính tại các trường cao đẳng, đại học hiện nay chủ yếu vẫn là phương pháp thuyết trình truyền thống, các nhóm phương pháp dạy học tích cực ít được sử dụng chỉ đạt mức độ trung bình.
Đa số giảng viên giảng dạy môn kế toán tài chính đều đạt chuẩn về kiến thức chuyên môn, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như: Kinh nghiệm giảng dạy còn thiếu, giảng viên chưa qua đào tạo nghiệp vụ sư phạm bài bản, một số chưa sử dụng tốt các phần mềm tin học ứng dụng. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục vụ dạy học cũng chưa đầy đủ, phòng học chuyên môn còn thiếu, đặc biệt phòng học kế toán mô phỏng.
Giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy kế toán tài chính
Từ những tồn tại, hạn chế nêu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy môn kế toán tài chính để sinh viên sau khi ra trường có thể đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Thứ nhất, giảng viên cần cập nhật những kiến thức thực tế, thiết kế bài giảng thực tế và sinh động. Bài giảng trên cơ sở nguyên cứu những bài báo của nước ngoài và những thông tin trong nước trên cơ sở hiểu rõ bản chất của vấn đề để trình bày và thiết kế bài giảng cho phù hợp với từng tiết giảng bằng cách tìm kiếm những tình huống thực tế đưa vào bài giảng.
dich vu ke toan thue tron goi gia re tai gia lam
Thứ hai, phát huy mô hình “học lẫn nhau” theo nhóm. Theo đó, giảng viên tập trung vào thảo luận, hướng dẫn phát hiện vấn đề, giám sát việc tham dự thảo luận theo các mục tiêu học thuật, học mang tính chủ động và sâu hơn; Chú ý tính thực hành trong từng phần giảng.
Thứ ba, giảng viên tạo không khí tích cực trong giờ học, trong đó chú ý dung hòa phù hợp giữa học và chơi. Đây là hai vấn đề không đối nghịch nhau mà ngược lại, khi người học tìm thấy niềm vui trong học tập thì việc học cũng trở nên dễ dàng hơn.
Thứ tư, người dạy trực quan hóa (trình bày nội dung bằng hình ảnh) các bài giảng. Con người không chỉ học bằng cách nghe, mà còn học được bằng cách quan sát. Vì thế, tất cả các nội dung quan trọng cần phải được trực quan hóa và trong suốt tiết học phải làm cho người học có thể nhìn thấy càng lâu càng tốt. Trực quan hóa được thực hiện thông qua các phương tiện giảng dạy như: bảng, bảng ghim, trình chiếu, tranh ảnh, hình vẽ...
Nếu giờ giảng chỉ xoay quanh những kiến thức sách vở và người học không nhận thấy mối quan hệ với cuộc sống thực tại, nghĩa là buổi học không đảm bảo yêu cầu. Kiến thức lý thuyết có thể được người học ghi nhớ trong các kỳ kiểm tra, nhưng khi thi xong, kiến thức đó sẽ biến mất. Lý thuyết là quan trọng để chúng ta lý giải các vấn đề. Tuy nhiên, nếu không có mối liên hệ với thực tế, lý thuyết chẳng có tác dụng gì.
Do vậy, người thầy ngoài kiến thức lý thuyết và thực tế không ngừng được củng cố và duy trì ở mức độ cao mà còn phải hiểu thấu và vận dụng linh hoạt các nguyên tắc trên sẽ mang lại nguồn cảm hứng và sự say mê của người học.
Làm được những công việc đó chúng ta mới đào tạo ra những thế hệ sinh viên có chuyên môn cao, có kỹ năng nghề nghiệp tốt đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, điểu này hoàn toàn phù hợp và cần thiết trong dạy học môn kế toán tài chính đối với sinh viên ngành Kế toán hiện nay.
lop hoc ke toan tong hop thuc hanh tai bien hoa dong nai
Theo tapchitaichinh
[Read More...]
Trong thời gian tới, TPHCM sẽ ưu tiên triển khai những giải pháp để tìm đầu ra, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cho các DN.
Tại cuộc họp của UBND TPHCM về tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm sáng 23/6, ông Thái Văn Rê, Giám đốc Sở KHĐT TPHCM, cho biết, kinh tế TP tiếp tục giữ được đà phục hồi, sản xuất kinh doanh có nhiều chuyển biến tích cực.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận 4
GDP có mức tăng trưởng khá cao, quý II tăng 8,7% (quý I tăng 7,7%). Tổng GDP 6 tháng ước đạt 378.915 tỷ đồng, tăng 8,2% so cùng kỳ, đáng chú ý, mức tăng này cao hơn so với cùng kỳ hai năm trước đó (6 tháng 2012 tăng 8,1%; 6 tháng 2013 tăng 7,9%), điều này chứng tỏ sự phục hồi của kinh tế TP khá vững chắc.
Thu ngân sách 6 tháng ước đạt 121.910 tỷ đồng, bằng 53,87% dự toán và tăng tới 14,9% so cùng kỳ. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đến cuối tháng 6 đạt 1.178.000 tỷ đồng, tăng 0,61% so cuối năm 2013; dư nợ tín dụng ước đạt 965.500 tỷ đồng, tăng 1,32% so cuối năm 2013...
Ông Thái Văn Rê cho biết, để có được tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ 2012 và 2013, ngay từ đầu năm, TP đã chủ động thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ DN như: Hỗ trợ lãi suất thông qua chương trình kích cầu đầu tư; hỗ trợ DN trong xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu; thực hiện quyết liệt chương trình bình ổn thị trường; triển khai hiệu quả chương trình kết nối ngân hàng-DN; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ thuế theo chỉ đạo của Chính phủ...
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại cần thơ
Cổng thông tin điện tử Thương mại và Đầu tư (MIS) TP thường xuyên cập nhật thông tin hỗ trợ khách mua hàng, nhà đầu tư nước ngoài và cho xuất khẩu; cập nhật các báo cáo về thị trường, về hoạt động xúc tiến của thành phố... Tính đến 31/5, MIS có 4.838 thành viên đăng ký sử dụng thường xuyên; đạt 2.194.371 số lượt truy cập từ 197 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Phát biểu tại cuộc họp, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân nhấn mạnh: Trong 6 tháng còn lại của năm, TP sẽ tiếp tục tập trung triển khai tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ DN phát triển sản xuất. Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu và công nghiệp phụ trợ để giảm dần nhập khẩu nguyên liệu.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải dương
“Bên cạnh việc tập trung thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch đã đề ra, trong thời gian tới, TP sẽ ưu tiên triển khai những giải pháp để tìm đầu ra, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cho các DN, đặc biệt là đầu ra cho lĩnh vực bất động sản”, Chủ tịch Lê Hoàng Quân cho biết.
Nguồn Tạp Chí Thuế
[Read More...]
Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người đã được chứng minh rõ. Trong hàng loạt các giải pháp, việc tăng thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) có lộ trình đang được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả cao nhất đối với việc hạn chế tiêu dùng mặt hàng này.
Tăng thuế TTĐB đối với thuốc lá không phải là nguyên nhân làm gia tăng buôn lậu. Trong ảnh: Thuốc lá lậu chuyển qua đường hàng không bị Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Nội Bài bắt giữ.
Tăng thuế điều tiết tiêu dùng
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thuốc lá là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên thế giới. Việc sử dụng thuốc lá gây ra 25 loại bệnh khác nhau, như: Ung thư phổi, ung thư thanh quản, ung thư khoang miệng, ung thư da, các bệnh tim mạch,…
Việt Nam thuộc nhóm 15 nước có số người hút thuốc lá cao nhất trên thế giới. Theo Điều tra toàn cầu năm 2010 về sử dụng thuốc lá ở người trên 15 tuổi tại Việt Nam (GATS): Tỷ lệ người hút thuốc lá ở độ tuổi từ 15 trở lên là 15,3 triệu người; cùng với đó là khoảng 33 triệu người bị hút thuốc thụ động tại nhà và khoảng 5 triệu người bị hút thuốc thụ động tại nơi làm việc trong nhà. Qua tham khảo mô hình lý thuyết Levy và các cộng sự, khoảng 40.000 ca tử vong tại Việt Nam trong năm 2008 có nguyên nhân trực tiếp từ thuốc lá (không tính các trường hợp hút thuốc thụ động), số tử vong này có thể lên tới 50.000 người năm 2023.
Với tất cả những lý do trên, việc tăng thuế TTĐB đối với thuốc lá là cần thiết để giảm tỷ lệ người hút thuốc lá và bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. Tiếp tục đánh thuế TTĐB với thuốc lá theo tỷ lệ hay áp dụng mức thuế tuyệt đối kết hợp với tăng mức thuế tương đối là hai phương án Bộ Tài chính đưa ra lấy ý kiến trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế TTĐB.
Sau một thời gian thu thập ý kiến đóng góp từ các bộ, ngành, địa phương, Bộ Tài chính đã thống nhất đề xuất phương án: Tăng thuế TTĐB đối với thuốc lá từ 65% lên 75% trong năm 2015 và có lộ trình tăng lên 85% từ năm 2018. Phương án này sẽ bảo đảm sự cạnh tranh công bằng hơn cách tính thuế hỗn hợp do tỷ lệ điều tiết và mức độ ảnh hưởng của thuế tới giá bán thuốc lá khác nhau. Tỷ lệ điều tiết của thuế đối với thuốc lá thấp cao hơn thuốc lá cao cấp. Dự kiến sẽ tăng số thu ngân sách năm 2016 là 2.930 tỷ đồng; năm 2017 là 3.300 tỷ đồng và năm 2018 là 7.700 tỷ đồng.
Trên thực tế, nếu chúng ta tăng thuế thì sức mua hay nói cách khác là khả năng chi trả sẽ còn cao hơn chứ không phải thấp đi. Do vậy, muốn đánh giá tác động của việc tăng thuế đối với các ngành công nghiệp liên quan cần đánh giá sự ảnh hưởng thực của thuế suất đến sức mua trên thị trường.
Ngoài ra, Bộ Tài chính nên để tần suất tăng thuế 2 năm 1 lần hoặc mỗi năm 1 lần với mức tăng thấp hơn thay vì 3 năm 1 lần với mức tăng cao. Như thế sẽ tránh "gây sốc" cho ngành công nghiệp sản xuất thuốc lá.
Bà Kari Hurt - Trưởng nhóm
phụ trách y tế, Ngân hàng Thế giới
Đã đủ mạnh tay
Đồng thuận với đề xuất tăng thuế của Bộ Tài chính, bà Phan Thị Hải - Phó Chánh Văn phòng Chương trình Phòng chống tác hại thuốc lá (VINACOSH), Bộ Y tế cho biết: Kinh nghiệm quốc tế cũng như khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) và WHO đều chỉ ra rằng thuế là biện pháp quan trọng nhất, có hiệu quả nhất để giảm tỷ lệ hút thuốc. Tuy nhiên, mức tăng thuế mà Bộ Tài chính nêu ra (75% vào năm 2015 và 85% vào năm 2018) vẫn còn thấp. Bà Hải nêu: Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế của Bộ Y tế, WHO, WB, phương án tăng thuế này chỉ khiến tiêu dùng thuốc lá giảm nhẹ trong các năm điều chỉnh thuế và sẽ tăng trở lại vào các năm ngay sau đó. Xét cho cả giai đoạn 2015-2020, mức tăng thuế có tác dụng không đáng kể đến tỷ lệ hút thuốc, không đạt mục tiêu quốc gia là giảm khoảng 1,05% tỷ lệ hút thuốc một năm trong nam giới. Điều này cũng đã được kiểm chứng qua lần tăng thuế năm 2006-2008 với mức tăng thuế 10% mỗi lần, kết quả cho thấy tỷ lệ hút thuốc giảm không đáng kể và có xu hướng tăng, ngành sản xuất thuốc lá vẫn tăng trưởng đều qua các năm, giá thuốc lá có xu hướng giảm do đó khả năng tiếp cận với thuốc lá dễ dàng.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hà đông
Bà Hải cho rằng, thuế TTĐB đối với thuốc lá nên ở mức 105% vào năm 2015 và 145% vào năm 2018. Mức thuế này có thể giúp Chính phủ đạt mục tiêu quốc gia về Phòng, chống tác hại thuốc lá và đồng thời cũng tăng nguồn thu ngân sách lớn hơn gấp 3 lần so với phương án của Bộ Tài chính. Trong trường hợp không thể tăng thuế ở mức đó, bà Hải đề nghị Ban soạn thảo cần tính toán sao cho giữ được tỷ lệ hút thuốc không tăng bằng việc tăng thuế ở mức giữ cho sức mua thuốc lá không đổi (tức là 85% năm 2015, 105% năm 2018). Đây là mức tăng tối thiểu để ngăn chặn sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc, đặc biệt ở thanh thiếu niên và nhóm người nghèo.
Chia sẻ quan điểm trên, ông Nguyễn Tuấn Lâm - Cán bộ chương trình quốc gia, Văn phòng WHO tại Việt Nam khẳng định, cần phải tăng thuế TTĐB đối với thuốc lá sao cho thuế chiếm từ 2/3 đến 3/4 giá bán lẻ song song với việc cân nhắc áp thuế ở khâu bán buôn mới có thể giảm tiêu dùng mặt hàng này.
Bà Dương Khánh Vân - Liên minh Quốc tế Phòng chống Lao và Bệnh phổi (The Union) cho rằng: Tăng thuế thuốc lá là chính sách “lợi cả đôi đường”, có hiệu quả lớn cả về kinh tế và sức khỏe. Việt Nam cần sử dụng thuế thuốc lá làm biện pháp chiến lược để giảm việc sử dụng thuốc lá. Thuế và giá thuốc lá ở Việt Nam hiện nay là rất thấp. Cần tăng thuế thuốc lá ở mức độ mạnh để đạt các mục tiêu y tế quốc gia. Ở các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, với sự gia tăng thu nhập và lạm phát, thuế và giá cần được điều chỉnh thường xuyên để đảm bảo làm giảm sức mua. Ở các nước chỉ áp dụng thuế tỷ lệ, việc chuyển đổi sang hệ thống thuế hỗn hợp sẽ mang lại các lợi ích lớn hơn đối với sức khỏe và ngân sách.
Tăng thuế - không tăng buôn lậu
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại bình dương
Sau khi Bộ Tài chính đưa ra đề xuất tăng thuế TTĐB thuốc lá, nhiều ý kiến tỏ ra lo ngại vì thuế tăng, giá tăng sẽ dẫn đến "tiếp tay" cho hàng lậu. Bác bỏ quan điểm này, TS. Lê Quang Thuận- Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính phân tích: Chính sách thuế TTĐB chỉ có thể phát huy hiệu quả khi công tác quản lý thuế, quản lý thị trường, chống buôn lậu được tăng cường, đảm bảo hiệu lực thực thi chính sách thuế. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy tăng mạnh thuế suất mà không tăng cường chống buôn lậu thì buôn lậu thuốc lá sẽ tăng mạnh nhưng không làm giảm tổng lượng tiêu thụ thuốc lá, không làm tăng thu ngân sách, thậm chí gây thất thu ngân sách do sản lượng và doanh thu của các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá hợp pháp bị suy giảm. Như vậy, có thể khẳng định: Tăng thuế không phải là nguyên nhân làm gia tăng buôn lậu. TS. Lê Quang Thuận dẫn chứng, từ năm 1980 đến 1994, Chính phủ Canada tăng thuế thuốc lá nhưng buôn lậu thuốc lá chỉ bắt đầu từ 1994; Thụy Điển là nước có giá thuốc lá cao nhất thế giới nhưng có tỷ lệ buôn lậu thấp nhất thế giới và Malaysia tăng mạnh thuế thuốc lá năm 2004 lên mức 55% nhưng buôn lậu năm 2004 giảm 29%.
Cùng quan điểm với TS. Thuận, bà Phan Thị Hải đưa ra thêm một số dẫn chứng cho thấy giá cả thuốc lá tăng không ảnh hưởng đến vấn đề buôn lậu. Cụ thể, theo khảo sát toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (GATS) 2010 cho thấy: Sản phẩm thuốc lá buôn lậu HERO và JET chiếm 90% tổng thị trường thuốc lá. Mức giá trung bình của hai loại thuốc này cao hơn mức giá trung bình của các nhãn hiệu thuốc lá hợp pháp khoảng từ 30% đến 60%. Bên cạnh đó, qua điều tra người sử dụng thuốc lá lậu tại 12 tỉnh, thành phố của Việt Nam, Bộ Y tế nhận được kết quả: Trên 70% người hút thuốc lá lậu là do hương vị hợp "gu" sử dụng, do tò mò hoặc do bạn bè mời; 15% sử dụng thuốc lá lậu là do giá cả. Điều này chứng minh rằng, tại Việt Nam, hương vị hay còn gọi là "gu hút" tác động nhiều hơn đến việc lựa chọn sử dụng thuốc lá lậu chứ không phải giá cả.
Bà Hải nhấn mạnh thêm, việc tăng giá thuốc lá tại Việt Nam không phải là nguyên nhân chủ yếu làm tăng buôn lậu vì giá của phần lớn thuốc nhập lậu đều cao hơn giá thuốc cùng loại được sản xuất trong nước. Việc gia tăng buôn lậu thuốc lá phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: Hiệu quả hoạt động kiểm soát buôn lậu, khả năng kiểm soát tại biên giới; khả năng kiểm soát mạng lưới bán lẻ thuốc lá tại các quốc gia; mức độ minh bạch hay tham nhũng trong công tác chống buôn lậu tại các nước.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại thanh trì
Nguồn Báo Hải Quan
[Read More...]
Nếu áp dụng sai quy định về chữ viết; chữ số; đơn vị tiền tệ trong kế toán sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đến 20 triệu đồng đối với cá nhân vi phạm.
Đây là nội dung được quy định tại Điểm a và b Khoản 1 Điều 7 Nghị định 41/2018/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập ( bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2018 )
Để anh/chị kế toán tránh bị sai phạm về việc sử dụng chữ viết, chữ số, đơn vị tính trong kế toán, bài viết dưới đây xin giới thiệu các quy định sau:
Điều 10. Đơn vị tính sử dụng trong kế toán Luật Kế toán 2015
1. Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán là Đồng Việt Nam, ký hiệu quốc gia là “đ”, ký hiệu quốc tế là “VND”. Trong trường hợp nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh bằng ngoại tệ, thì đơn vị kế toán phải ghi theo nguyên tệ và Đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái thực tế, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; đối với loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với Đồng Việt Nam thì phải quy đổi thông qua một loại ngoại tệ có tỷ giá hối đoái với Đồng Việt Nam.
Đơn vị kế toán chủ yếu thu, chi bằng một loại ngoại tệ thì được tự lựa chọn loại ngoại tệ đó làm đơn vị tiền tệ để kế toán, chịu trách nhiệm trước pháp luật và thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Khi lập báo cáo tài chính sử dụng tại Việt Nam, đơn vị kế toán phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái thực tế, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc giang
2. Đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động sử dụng trong kế toán là đơn vị đo pháp định của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp đơn vị kế toán sử dụng đơn vị đo khác thì phải quy đổi ra đơn vị đo pháp định của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Đơn vị kế toán được làm tròn số, sử dụng đơn vị tính rút gọn khi lập hoặc công khai báo cáo tài chính.
4. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.
Điều 4. Đơn vị tính sử dụng trong kế toán_Nghị định 174/2016/NĐ-CP
1. Đơn vị tiền tệ sử dụng kế toán là Đồng Việt Nam, ký hiệu quốc gia là "đ", ký hiệu quốc tế là "VNĐ". Trường hợp nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh bằng ngoại tệ, đơn vị kế toán phải đồng thời theo dõi nguyên tệ và quy đổi ra Đồng Việt Nam để ghi sổ kế toán trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; đối với loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với Đồng Việt Nam thì phải quy đổi thông qua một loại ngoại tệ khác có tỷ giá hối đoái với Đồng Việt Nam và ngoại tệ cần quy đổi.
Đơn vị kế toán có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh chủ yếu bằng một loại ngoại tệ thì được tự lựa chọn loại ngoại tệ đó làm đơn vị tiền tệ trong kế toán, chịu trách nhiệm về lựa chọn đó trước pháp luật và thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra đơn vị tiền tệ trong kế toán và chuyển đổi báo cáo tài chính lập bằng ngoại tệ sang Đồng Việt Nam được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Đơn vị kế toán trong lĩnh vực kế toán nhà nước khi phát sinh các khoản thu, chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.
3. Các đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động sử dụng trong kế toán bao gồm tấn, tạ, yến, kilôgam, mét vuông, mét khối, ngày công, giờ công và các đơn vị đo lường khác theo quy định của pháp luật về đo lường.
4. Đơn vị kế toán trong lĩnh vực kinh doanh khi lập báo cáo tài chính tổng hợp, báo cáo tài chính hợp nhất từ báo cáo tài chính của các công ty con, đơn vị kế toán trực thuộc hoặc đơn vị kế toán cấp trên trong lĩnh vực kế toán nhà nước khi lập báo cáo tài chính tổng hợp, báo cáo tổng quyết toán ngân sách năm từ báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị cấp dưới nếu có ít nhất 1 chỉ tiêu trên báo cáo có từ 9 chữ số trở lên thì được sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn là nghìn đồng (1.000 đồng), có từ 12 chữ số trở lên thì được sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn là triệu đồng (1.000.000 đồng), có từ 15 chữ số trở lên thì được sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn là tỷ đồng (1.000.000.000 đồng).
5. Đơn vị kế toán khi công khai báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách được sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn theo quy định tại khoản 4 Điều này.
dịch vụ kế toán thuế giá rẻ tại vĩnh phúc
6. Khi sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn, đơn vị kế toán được làm tròn số bằng cách: Chữ số sau chữ số đơn vị tiền tệ rút gọn nếu bằng 5 trở lên thì được tăng thêm 1 đơn vị; nếu nhỏ hơn 5 thì không tính.
Điều 11. Chữ viết và chữ số sử dụng trong kế toán Luật Kế toán 2015
1. Chữ viết sử dụng trong kế toán là tiếng Việt. Trường hợp phải sử dụng tiếng nước ngoài trên chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính tại Việt Nam thì phải sử dụng đồng thời tiếng Việt và tiếng nước ngoài.
2. Chữ số sử dụng trong kế toán là chữ số Ả-rập; sau chữ số hàng nghìn, hàng triệu, hàng tỷ phải đặt dấu chấm (.); khi còn ghi chữ số sau chữ số hàng đơn vị thì sau chữ số hàng đơn vị phải đặt dấu phẩy (,).
3. Doanh nghiệp, chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài hoặc của tổ chức nước ngoài phải chuyển báo cáo tài chính về công ty mẹ, tổ chức ở nước ngoài hoặc sử dụng chung phần mềm quản lý, thanh toán giao dịch với công ty mẹ, tổ chức ở nước ngoài được sử dụng dấu phẩy (,) sau chữ số hàng nghìn, hàng triệu, hàng tỷ; khi còn ghi chữ số sau chữ số hàng đơn vị thì sau chữ số hàng đơn vị được đặt dấu chấm (.) và phải chú thích trong tài liệu, sổ kế toán, báo cáo tài chính. Trong trường hợp này, báo cáo tài chính nộp cơ quan thuế, cơ quan thống kê và cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.
[Read More...]
Doanh nghiệp mới thành lập có rất nhiều công tác kế toán cần thực hiện trong đó mảng lao động tiền lương là một trong những mảng vô cùng quan trọng để đảm bảo quyền lợi cho người lao động – vấn đề mà nhân viên quan tâm hàng đầu khi đi làm tại mỗi doanh nghiệp.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức
1.Thời hạn 30 ngày kể từ ngày thành lập doanh nghiệp cần làm các công việc sau
1.1. Khai trình việc sử dụng lao động lần đầu
Doanh nghiệp phải khai trình việc sử dụng lao động với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (nếu Doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp) nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng, đại diện.
Lưu ý:
- Số lượng người lao động khai trình không bao gồm những người đang thử việc.
1.2.Thông báo ban đầu về số người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp
Doanh nghiệp có trách nhiệm gửi Thông báo ban đầu về số lao động đang làm việc tại doanh nghiệp về Trung tâm dịch vụ việc làm nơi doanh nghiệp đặt trụ sở.
1.3. Lập Sổ quản lý lao động
Doanh nghiệp phải lập sổ quản lý lao động nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện.
Doanh nghiệp phải ghi chép đầy đủ thông tin về người lao động khi hợp đồng lao động có hiệu lực và cập nhật thông tin khi có sự thay đổi vào Sổ quản lý lao động.
2.Công việc khi doanh nghiệp mới đi vào hoạt động và sử dụng lao động
2.1. Xây dựng Thang bảng lương
Doanh nghiệp phải xây dựng Thang bảng lương của mình. Đây là tiền đề để doanh nghiệp thực hiện các công việc như: tuyển dụng, sử dụng lao động, ký kết hợp đồng và trả lương cho người lao động.
dịch vụ kế toán thuế giá rẻ tại hưng yên
Thang bảng lương phải được công bố công khai cho người lao động tại nơi làm việc trước khi thực hiện.
2.2. Xây dựng và công bố Thỏa ước lao động
Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể người lao động và Doanh nghiệp về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể.
2.3. Xây dựng nội quy lao động
Nội quy lao động quy định bắt buộc đối với doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên.
Doanh nghiệp phải nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký Nội quy lao động với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày ban hàng Nội quy lao động tại nơi Doanh nghiệp đặt trụ sở.
2.4. Ký kết hợp đồng lao động
Doanh nghiệp phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với từng người lao động làm việc cho doanh nghiệp, mỗi bên sẽ giữ 01 bản (đối với trường hợp ký kết hợp đồng trên 03 tháng)
2.5. Đăng ký cấp mã số thuế thu nhập cá nhân (TNCN)
Đối với cá nhân chưa có mã số thuế thì cá nhân đi đăng ký mã số thuế TNCN hoặc cá nhân ủy quyền để doanh nghiệp đăng ký thay.
2.6. Đăng ký tham gia các loại Bảo hiểm bắt buộc
Doanh nghiệp sử dụng lao động là đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm phải đăng ký tham gia các loại bảo hiểm bắt buộc cho người lao động khi ký kết hợp đồng lao động.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại bình tân
- Theo Ngọc Anh-
[Read More...]
–Công ty sau khi thanh tra thuế tại doanh nghiệp nhận được quyết định trong đó có phần giảm lỗ?
–Sau kiểm tra quyết toán thuế, thanh tra thuế thường trên biển bản kết quả xử lý thường hay có kết quả xử lý giảm lỗ các năm:
+ Xử lý giảm lỗ như thế nào?
–Vậy giảm lỗ có cần làm lại sổ sách không?
–Giảm lỗ có cần định khoản gì không?
***Căn cứ:
– Điều 9 của Thông tư 78/2014/TT-BTC ngày 18 tháng 06 năm 2014 & Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22 tháng 06 năm2015Hướng dẫn về thuế thu nhập Doanh nghiệp tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP
***Theo đó:
– Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập (thu nhập chịu thuế đã trừ thu nhập miễn thuế) của những năm tiếp theo. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.
***Về quyết toán thuế TNDN:
+++Phân biệt Lợi nhuận kế toán và Thu nhập tính thuế
– Lợi nhuận (lỗ) kế toán: Là lãi hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
– Thu nhập tính thuế: Là thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp của một kỳ, được xác định theo qui định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và là cơ sở để tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được tính trên Cơ sở kết hợp Lợi nhuận từ Kế toán và Thông tư về thuế TNDN.
***Phân loại chênh lệch giữa kế toán và thuế: Có 2 loại chênh lệch
– Chênh lệch vĩnh viễn: là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập tính thuế phát sinh từ các khoản doanh thu, thu nhập khác, chi phí được ghi nhận vào lợi nhuận kế toán nhưng lại không được tính vào thu nhập, chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
+++Ví dụ: Chi phí không được chấp nhận cho mục đích tính thuế
– Tiền phạt vi phạm hành chính, vi phạm thuế, bảo hiểm…
– Lãi tiền vay của cá nhân quá tỷ lệ khống chế quy định;
– Chi phí khác (Biếu, tặng, Tiếp khách, Khuyến mại…) vượt quá tỷ lệ quy định
– Chi phí không có hóa đơn tài chính, chi phí lãi vay tương ứng với phần vốn góp chưa đủ …
***Chênh lệch tạm thời được khấu trừ: Là các khoản chênh lệch tạm thời làm phát sinh các khoản được khấu trừ chi phí trong tương lai thường được sử dụng các tài khoản 243, 347,8211
***Quy tắc chuyển lỗ:
– Chỉ chuyển lỗ của năm trước đó đúng bằng số lãi phát sinh trong kỳ
– Chỉ tiêu B12 và B13 bằng bao nhiêu sẽ làm căn cứ chuyển lỗ bấy nhiêu trên tờ khai quyết toán thuế TNDN năm
– Số lỗ được chuyển khi quyết toán thuế TNDN thêm phụ lục chuyển lỗ ở mẫu 03-2a = > số lỗ tự động chuyển sang chỉ tiêu [C3a] Lỗ từ hoạt động SXKD được chuyển trong kỳ số chênh lệch lỗ chưa chuyển hết sẽ là số lỗ còn được chuyển tiếp
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bình dương
– Số lỗ được chuyển lỗ 05 năm theo luật thuế TNDN bắt đầu từ năm tiếp theo của năm phát sinh lỗ là hết hạn chuyển lỗ theo luật thuế TNDN (đi từ TT130-TT123-NĐ218-TT78- TT96…
– Trường hợp cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp xác định số lỗ doanh nghiệp được chuyển khác với số lỗ do doanh nghiệp tự xác định thì số lỗ được chuyển xác định theo kết luận của cơ quan kiểm tra, thanh tra nhưng đảm bảo chuyển lỗ toàn bộ và liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ theo quy định.
– Quá thời hạn 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ, nếu số lỗ phát sinh chưa chuyển hết thì sẽ không được chuyển vào thu nhập của các năm tiếp sau.
+++Khi làm tờ khai quyết toán năm: công thức là
++ Được chuyển lỗ:
1/ Chỉ tiêu A1 > 0 & B12-13 > 0 thì làm phụ lục Chuyển lỗ 03-2A/TNDN
2/ Chỉ tiêu (A1 < 0 + B4) > 0 => B12-13 > 0 thì làm phụ lục Chuyển lỗ 03-2A/TNDN
++Không được chuyển lỗ:
3/ Chỉ tiêu A1 < 0 => B12-13 < 0 thì KHÔNG làm phụ lục Chuyển lỗ 03-2A/TNDN (B4=0 không có chi phí bị xuất toán)
4/ Chỉ tiêu (A1 < 0 + B4) < 0 => B12-13 < 0 thì KHÔNG làm phụ lục Chuyển lỗ 03-2A/TNDN
*** Về giảm lỗ theo quyết định kiểm tra quyết toán/ thanh tra thuế:
–Giảm lỗ theo quyết định kiểm tra quyết toán thuế không cần phải làm bút toán định khoản điều chỉnh sổ sách nào cả & kể cả tờ khai các loại
–Không cần chỉnh sửa bất kỳ một bút toán nào của năm các năm Giảm Lỗ theo kiết quả kiểm tra các chi phí phát sinh bị xuất toán trong biên bản đều thuộc chi phí kế toán không thêm hoặc xóa bất kỳ một bút toán nào vì đã có quyết định thanh tra thuế.
–Không cần làm lại bất kỳ sổ sách gì cả, chỉ cần xác định lại số lỗ theo quyết định thanh tra thuế để làm căn cứ giảm lỗ và chuyển lỗ cho các năn tiếp theo dựa theo chênh lệch lỗ giữa kết quả kiểm tra với sổ sách để làm căn cứ chuyển lỗ trên: phụ lục chuyển lỗ mẫu 03-2A/TNDN của tờ khai quyết toán TNDN năm
–Số chên lệch Lỗ theo luật thuế sau khi giảm Lỗ = Số Lỗ theo sổ sách – Số giảm Lỗ theo quyết định là Lỗ mà doanh nghiệp được chuyển lỗ chuyển lỗ theo luật thuế và số lỗ được chuyển lỗ 05 năm theo luật bắt đầu từ tài chính kế tiếp và hết hạn chuyển lỗ theo luật (đi từ TT130-TT123-NĐ218-TT78-TT96…
***Ví dụ:
-Năm 2016 công ty A số lỗ trên sổ sách = - 100.000.000
-Đầu tháng 1/2017 doanh nghiệp có quyết định thanh kiểm tra và có kết quả xử lý của đoàn kiểm tra như sau
-Giảm lỗ 90 triệu đồng do các nguyên nhân: chi phí lương không hồ sơ chứng từ…
Vậy theo kết quả trên ta thấy việc kết chuyển lỗ tuân theo luật thuế và kế toán
- Theo Sổ sách luật kế toán lỗ = -100 triệu: ngày 01/1/2017 kết chuyển lỗ vẫn là: Nợ TK 4211/ Có TK 4212= 100 triệu
- Theo luật thuế số lỗ chỉ chấp nhận = 100 triệu -90 triệu = -10 triệu là số làm căn cứ chuyển lỗ theo: phụ lục chuyển lỗ mẫu 03-2A/TNDN của tờ khai quyết toán TNDN năm nếu Doanh nghiệp SXKD có lãi
= > Giá trị giảm lỗ 90 triệu là giá trị chênh lệch vĩnh viễn doanh nghiệp không được chuyển số giảm lỗ của thanh tra thuế tại doanh nghiệp cho các năm quyết toán thuế tiếp theo nếu doanh nghiệp SXKD có lãi
+ Doanh nghiệp không cần phải làm bút toán định khoản giảm lỗ nào trên sổ sách
+ Doanh nghiệp chỉ theo dõi số lỗ còn lại để chuyển lỗ theo luật thuế: chỉ được chuyển lỗ 10 triệu.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại tân phú
***Hạch toán sau thanh tra thuế
+ Nếu năm trước đó cty đang LÃI đang dư Có TK 4211 thì :
Nợ TK 4211/ có TK 3334=tiền truy thuế TNDN
Nợ TK 4211/ có TK 3339=tiền phạt
Nợ TK 4211/ có TK 33311=tiền truy thuế GTGT
Nợ TK 4211/ có TK 3335=tiền truy thuế TNCN
+ Khi nộp:
Nợ TK 3334,3339,33311,3335/ Có TK 111,112.
*Chú ý: trường hợp này làm cho số liệu trên báo cáo KQKD không khớp với số dư TK 421 trên Sổ sách (CĐPS, Sổ cái)
+ Nếu năm trước đó đang LỖ Nợ TK 4211 thì
Nợ TK 811/ có TK 3334=tiền truy thuế TNDN
Nợ TK 811/ có TK 3339=tiền phạt
Nợ TK 811/ có TK 3339=tiền truy thuế GTGT
Nợ TK 811/ có TK 3335=tiền truy thuế TNCN
*Khi nộp:
– Nợ TK 3334,3339,33311,3335/ Có TK 111,112.
công ty dịch vụ kế toán giá rẻ tại bắc ninh
= > Kết Chuyển Nợ TK 911/ có TK 811 và tính vào lợi nhuận chưa phân phối năm nay 4212 cuối năm khi quyết toán thuế TNDN năm xuât toán khoản này vào B4 của tờ khai quyết toán thuế TNDN làm tăng doanh thu tính thuế.
[Read More...]
Với một nhân viên kế toán được nhận vài vị trí kế toán sản xuất, vậy bạn cần phải lưu ý những vấn đề gì về mảng kế toán này? Chắc hẳn rằng các bạn đang vướn mắc về cách tính chi phí sản xuất và tính giá thành phải không? Như thế thì kế toán kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đặc biệt quan trọng trong nền doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, quá trình sản xuất kinh doanh các sản phẩm , các doanh nghiệp không tránh khỏi những thiệt hại sản xuất như : thiệt hại sản phẩm hỏng, thiệt hại về ngừng sản xuất, thiệt hại trong trong xây lấp.
Trước hết chúng ta cần tìm hiểu sản phẩm hỏng là như thế nào?Hiện nay nền kinh tế đang có bước chuyển đổi, như thế doanh nghiệp
I. Thiệt hại về sản phẩm hỏng
Sản phẩm hỏng là sản phẩm không thoả mãn các tiêu chuẩn chất lượng và đặc điểm kỹ thuật của sản xuất về màu sắc, kích cỡ, trọng lượng, cách thức lắp ráp.
Tuy nhiên sản phẩm hỏng chúng ta cần phân biệt 2 trường hợp :
+ Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được là sản phẩm có thể sửa chữa được về mặt kỹ thuật và sửa chữa có lợi về mặt kinh tế.
+ Sản phẩm hỏng không sửa chữa được là sản phẩm không thể sửa chữa được về mặt kỹ thuật hoặc sửa chữa không có lợi về mặt kinh tế.
1. Đối với sản phẩm hỏng sửa chữa được :
Tùy sản phẩm hỏng nằm trong định mức hoặc ngoài định mức mà chi phí sửa chữa được hạch toán vào những khoản mục chi phí sản xuất phù hợp với nội dung từng khoản chi phí sửa chữa để cuối kỳ kết chuyển vào giá thành cuat sản phẩm hoàn thành trong kỳ,
Trong quan hệ với công tác kế hoạch sản xuất thì loại sản phẩm hỏng trên lại được chi tiết thành sản phẩm hỏng trong định mức (doanh nghiệp dự kiến sẽ xảy ra trong sản xuất) và sản phẩm hỏng ngoài định mức (sản phẩm hỏng ngoài dự kiến của nhà sản xuất).
Nội dung và trình tự hạch toán
a.. Tập hợp chi phí sửa chữa phát sinh:
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Nợ TK 621 , 622
Có TK liên quan
b. Kết chuyển để tổng hợp chi phí sửa chữ thực tế phát sinh
Nợ TK 154 ( sản phẩm hỏng)
Có TK 621
Có Tk 622
Có TK 627 --- > Nếu có phân bổ chi phí sản xuất chung
c. Căn cứ vào kết quả xử lý để phản ánh:
Nợ TK 154 ( sản phẩm được chế tạo ) --> tính vào giá thành
Nợ TK 1388 và Bắt bồi thường
Nợ 811à Tính vào chi phí khác
Có TK 154 ( sản phẩm hỏng )--> chi phí sửa chữa được
2. Đối với sản phẩm hỏng không sửa chữa được :
a. Căn cứ vào giá thành hỏng không sửa chữa được :
Nợ TK 154 ( sản phẩm hỏng)
Có TK 154 ( sản phẩm đang chế tạo ) --> Phát hiện trong quá trình sản xuất.
Có TK 155 -> phát hiện trong kho thành phẩm
Có TK 157 -> Hàng gửi bán bị trả lại
Có TK 632 -> hàng đ ã bán bị trả lại
b. Căn cứ vào giá trị phế liệu thu hồi được để ghi
dich vu ke toan thue tron goi gia re tai bien hoa
Nợ TK 152 ( phế liệu)
Có Tk 154 ( sản phẩm hỏng)
c. Căn cứ vào kết quả xử lý khoản thiệt hại ghi
Nợ TK 154
Nợ TK 1388 ( Bắt bồi thường)
Nợ Tk 811 (Tính vào chi phí khác)
Có 154 ( khoản thiệt hại về sản phẩm hỏng)
II. Kế toán thiệt hại ngừng sản xuất
Trong thời gian ngừng sản xuất vì những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan (thiên tai dịch hoạ, thiếu nguyên vật liệu.) các doanh nghiệp vẫn phải bỏ ra một số khoản chi phí để duy trì hoạt động như tiền công lao động, khấu hao TSCĐ chi phí bảo dưỡng... đó được coi là những thiệt hại khi ngừng sản xuất.
Những thiệt hại ngừng sản xuất theo kế hoạch dự kiến và ngừng sản xuất bất thường.
Trường hợp ngừng sản xuất theo kế hoạch có tính chất tạm thời ( do tính thời vụ, do bảo dưỡng, sửa chữa máy móc) và doanh nghiệp có lập dự toán chi phí của thời gian ngững sản xuất thì kế toán căn cứ vào dự toán để trích trước tính chi phí sản xuất kinh doanh:
Nợ TK 622, 627
Có TK 335
Khi phát sinh chi phí thực tế
Nợ 335
Có 334, 138, 152
Cuối niên dộ phải điều chỉnh số trích trước theo số phát sinh :
* Nếu số trích trước > số thực tế ghi
Nợ tk 335
Có Tk 622, 627
* Nếu số trích trư ớc < số thực tế thì khoản chênh lẹ ch được tính
Nợ Tk 622, 627
Có TK 335
* Trường hợp ngừng sản xuất phát sinh bất thường ngoài dự kiến
Các khoản chi phí phát sinh trong thời gian ngừng sản xuất ghi :
Nợ Tk 811
Có TK 334, 338, 152
Các khoản thu được do bắt bồi thường thiệt hại
Nợ 111, 112, 1388
Có 711
Trên là bài hướng dẫn về cách hạch toán về các khoản thiệt hại trong quá trình sản xuất. Có thể góp phần giúp cho kế toán một phần nào về công việc của mình.
lop hoc ke toan tong hop thuc hanh tai binh thanh
Chúng tôi luôn mang đến những kiến thức thực tế nhất cho các bạn. Hãy đến với học kế toán thực hànhhọc kế toán thực hành để trao dồi những kiến thức mới nhất.
[Read More...]
Kế toán Hà Nội xin hướng dẫn các bạn Đăng ký người phụ thuộc (NPT) giảm trừ gia cảnh theo Thông tư 95/2016/TT-BTC ngày 28/06/2016 ( có hiệu lực từ ngày 12/08/2016 trở đi)
Theo hướng dẫn tại Thông tư 95/2016/TT-BTC ngày 28/06/2016 thì có 02 cách đăng ký giảm trừ gia cảnh cho NPT như sau:
Một là: Cá nhân đăng ký NPT thông qua đơn vị chi trả thu nhập.
Hai là: Cá nhân tự đăng ký NPT với cơ quan Thuế.
1. Trường hợp Cá nhân đăng ký NPT thông qua đơn vị chi trả thu nhập:
Theo hướng dẫn tại điểm b khoản 10 điều 7 của Thông tư 95/2016/TT-BTC thì cá nhân đó phải thực hiện qua các bước sau:
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hà đông
Bước 1: Cá nhân phải gửi các giấy tờ tài liệu chứng minh liên quan tới NPT cho đơn vị chi trả thu nhập, gồm:
– Văn bản ủy quyền đăng ký người phụ thuộc.
– Và các giấy tờ liên quan tới người phụ thuộc (Bản sao không yêu cầu chứng thực) như sau:
+ Thẻ căn cước công dân hoặc Giấy chứng minh nhân dân còn hiệu lực ( Đối với Người phụ thuộc có quốc tịch Việt Nam và từ đủ 14 tuổi trở lên)
+ Hoặc Giấy khai sinh còn hiệu lực ( Đối với Người phụ thuộc có quốc tịch Việt Nam dưới 14 tuổi);
+ Hoặc Hộ chiếu hoặc Giấy khai sinh còn hiệu lực ( Đối với cá nhân là Người phụ thuộc có quốc tịch nước ngoài và người Việt Nam sống ở nước ngoài).
Bước 2: Tổ chức chi trả thu nhập tổng hợp hồ sơ đăng ký thuế của NPT và làm Tờ khai đăng ký thuế tổng hợp cho người phụ thuộc của cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo mẫu số 20-ĐKT-TH-TCT ban hành kèm theo Thông tư 95/2016/TT-BTC (trên tờ khai đánh dấu vào ô “Đăng ký thuế” và ghi đầy đủ các thông tin) qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế hoặc bằng giấy.
Một số lưu ý khi làm tờ khai đăng ký thuế tổng hợp cho người phụ thuộc:
+ Nếu người phụ thuộc đã có chứng minh thư nhân dân (từ đủ 14 tuổi trở lên) hoặc đã có mã số thuế người phụ thuộc thì khai thông tin NPT đó vào mục I.
+ Nếu người phụ thuộc chưa có chứng minh thư nhân dân (dưới 14 tuổi) hoặc chưa có mã số thuế người phụ thuộc thì khai vào mục II.
– Mục “Thời điểm bắt đầu tính giảm trừ gia cảnh” (chỉ tiêu 10 hoặc 25): Ghi theo tháng thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng.
1.2 – Trường hợp cá nhân tự đăng ký người phụ thuộc trực tiếp với cơ quan Thuế
theo hướng dẫn tại điểm a khoản 10 điều 7 Thông tư 95/2016/TT-BTC: Nếu cá nhân trực tiếp nộp hồ sơ đăng ký thuế cho người phụ thuộc tại cơ quan thuế thì hồ sơ đăng ký thuế bao gồm:
công ty dịch vụ kế toán giá rẻ tại hải phòng
– Tờ khai đăng ký người phụ thuộc của cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công mẫu số 20-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư 95/2016/TT-BTC (trên tờ khai đánh dấu vào ô “Đăng ký thuế” và ghi đầy đủ các thông tin).
– Và một trong các giấy tờ sau ( Bản sao không yêu cầu chứng thực):
+ Thẻ căn cước công dân hoặc Giấy chứng minh nhân dân còn hiệu lực ( đối với Người phụ thuộc có quốc tịch Việt Nam và từ đủ 14 tuổi trở lên).
+ Hoặc Giấy khai sinh còn hiệu lực ( đối với Người phụ thuộc có quốc tịch Việt Nam dưới 14 tuổi)
+ Hộ chiếu hoặc Giấy khai sinh còn hiệu lực ( đối với cá nhân là người phụ thuộc có quốc tịch nước ngoài và người Việt Nam sống ở nước ngoài).
3. Trường hợp có thay đổi thông tin đăng ký thuế:
Nếu sau khi người lao động ủy quyền cho cơ quan chi trả thu nhập thực hiện đăng ký thuế nhưng lại có thay đổi thông tin đăng ký thuế của cá nhân và người phụ thuộc thì cá nhân phải khai báo với cơ quan chi trả thu nhập. Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm tổng hợp và gửi hồ sơ thông tin thay đổi của các cá nhân ủy quyền đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp một lần trong năm, chậm nhất là 10 (mười) ngày làm việc trước thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân hàng năm.
* Hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế
– Trường hợp thay đổi thông tin của chính cá nhân phải nộp thuế TNCN:
Cá nhân gửi Bản sao không cần chứng thực các giấy tờ có thay đổi thông tin liên quan đến đăng ký thuế cho đơn vị chi trả thu nhập. Đơn vị chi trả thu nhập sẽ lập Tờ khai đăng ký thuế tổng hợp cho cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo Mẫu số 05-ĐK-TH-TCT ban hành kèm theo Thông tư 95/2016/TT-BTC. Trên tờ khai đánh dấu vào ô “Thay đổi thông tin đăng ký thuế” và ghi các thông tin đăng ký thuế có thay đổi.
– Trường hợp thay đổi thông tin cho NPT của cá nhân phải nộp thuế TNCN:
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại phú nhuận
Cá nhân gửi Bản sao không cần chứng thực các giấy tờ có thay đổi thông tin liên quan đến đăng ký thuế của NPT cho cơ quan chi trả thu nhập. Cơ quan chi trả thu nhập lập Tờ khai đăng ký thuế tổng hợp cho người phụ thuộc của cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo Mẫu số 20-ĐK-TH-TCT ban hành kèm theo Thông tư 95/2016/TT-BTC. Trên tờ khai đánh dấu vào ô “Thay đổi thông tin đăng ký thuế” và ghi các thông tin đăng ký thuế có thay đổi.
[Read More...]
Bà Lý Thị Tuyết Mai (Quảng Ninh) tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế nông nghiệp, hiện là công chức tại Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện. Thời gian học đại học, bà tham gia lớp bồi dưỡng kế toán trưởng và được cấp giấy chứng nhận.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bình dương
Vừa qua, bà được thủ trưởng giao thêm nhiệm vụ phụ trách kế toán về tiền lương, kế toán sự nghiệp nông nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp thủy sản do phòng quản lý.
Bà Mai hỏi, với các điều kiện đã nêu như trên, việc bà được giao nhiệm vụ phụ trách kế toán có bảo đảm tính pháp lý theo quy định không? Giấy chứng nhận kế toán trưởng của bà có được phép làm căn cứ để phòng giao nhiệm vụ phụ trách kế toán và được thực hiện giao dịch với kho bạc nhà nước (KBNN) huyện không?
Bà cũng muốn biết, KBNN huyện căn cứ vào quyết định giao nhiệm vụ phụ trách kế toán của Phòng đồng ý cho phép kế toán giao dịch như vậy đã đủ thủ tục theo quy định chưa?
Hiện tại một số phòng ban của huyện, cán bộ phụ trách kế toán không có trình độ chuyên môn kế toán (trung cấp, cao đẳng, đại học) mà chỉ có chứng chỉ kế toán học 3 tháng, vậy những trường hợp này có bảo đảm về quy định giao nhiệm vụ phụ trách kế toán không?
Về vấn đề này, KBNN tỉnh Quảng Ninh trả lời như sau:
dich vu ke toan thue tron goi gia re tai go vap
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 21 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán thì kế toán trưởng, phụ trách kế toán của các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp huyện có tổ chức bộ máy kế toán (trừ các đơn vị dự toán cấp 1 thuộc ngân sách cấp huyện) phải có chuyên môn nghiệp vụ về kế toán từ trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên. Việc giao nhiệm vụ phụ trách kế toán cho công chức có trình độ chuyên môn về Kinh tế nông nghiệp hoặc chỉ có chứng chỉ kế toán học 3 tháng là không bảo đảm theo quy định.
Theo Điều 9 Thông tư số 199/2011/TT-BTC ngày 30/12/2011 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện việc tổ chức bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng kế toán trưởng thì chứng chỉ bồi dưỡng kế toán trưởng có giá trị sử dụng trong thời hạn 5 năm kể từ ngày cấp để bổ nhiệm kế toán trưởng lần đầu theo quy định.
Thông tư số 61/2014/TT-BTC ngày 12/5/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn đăng ký và sử dụng tài khoản tại KBNN trong điều kiện áp dụng Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc quy định cụ thể như sau:
Tại Điều 5 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tài khoản: Lập và gửi hồ sơ đăng ký và sử dụng tài khoản đến KBNN; chịu trách nhiệm về tính pháp lý của các giấy tờ liên quan đến hồ sơ đăng ký và sử dụng tài khoản của đơn vị; tại Điều 6 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của KBNN: Hướng dẫn các đơn vị, tổ chức thực hiện đúng chế độ đăng ký và sử dụng tài khoản tại Kho bạc Nhà nước; tại Điều 8 quy định hồ sơ đăng ký sử dụng tài khoản gồm có: Quyết định bổ nhiệm chức vụ của chủ tài khoản, kế toán trưởng (hoặc người phụ trách kế toán).
lop hoc ke toan tong hop thuc hanh tai go vap
Do vậy, KBNN chỉ căn cứ vào quyết định bổ nhiệm chức vụ của chủ tài khoản, kế toán trưởng (hoặc người phụ trách kế toán) và các hồ sơ có liên quan để thực hiện mở tài khoản cho các đơn vị giao dịch mà không chịu trách nhiệm về tính pháp lý của quyết định bổ nhiệm chức vụ của chủ tài khoản, kế toán trưởng (hoặc người phụ trách kế toán).
Theo Chinhphu
[Read More...]