Một số Điều về Hệ thống Mục lục ngân sách nhà nước được sửa đổi bổ sung



Bộ Tài chính mới ban hành Thông tư số 110/2012/TT-BTC ngày 03/7/2012 về việc Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Hệ thống Mục lục ngân sách nhà nước.

Theo đó, Thông tư đã bổ sung Chương được ban hành theo Phụ lục số 01; bổ sung, sửa đổi tên, hướng dẫn hạch toán Mục, Tiểu mục được ban hành theo Phụ lục số 03 và bổ sung mã số, hướng dẫn hạch toán Chương trình mục tiêu quốc gia được ban hành theo Phụ lục số 04 kèm theo Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Hệ thống Mục lục ngân sách nhà nước. Cụ thể sửa đổi, bổ sung các chương, mục như sau: Bổ sung Chương thuộc cấp huyện: Chương 683 “Phòng Dân tộc”; Bổ sung Mục 1250 “Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản” và bổ sung Tiểu mục của Mục 1250 “Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản” và bổ sung Tiểu mục 1251: Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Bổ sung Tiểu mục của Mục 3000 “Lệ phí quản lý nhà nước đặc biệt về chủ quyền quốc gia”: Tiểu mục 3009 “Lệ phí cấp giấy phép cho các đối tượng liên quan hoạt động tàu, thuyền nước ngoài”. Bổ sung Tiểu mục của Mục 3050 “Lệ phí quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác”: Tiểu mục 3063 “Lệ phí cấp giấy phép quy hoạch”. Sửa đổi tên Tiểu mục của Mục 7000 “Chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành”: Tiểu mục 7017 “Chi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học theo chế độ quy định”, thành: Chi khoán thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học theo chế độ quy định. Tiểu mục 7017 dùng để hạch toán phần kinh phí được giao khoán thực hiện đề tài, dự án nghiên cứu khoa học theo chế độ, bao gồm cả chi từ phần tiết kiệm theo chế độ.

Sửa đổi tên Mục và bổ sung Tiểu mục của Mục 8050 “Chi hỗ trợ doanh nghiệp”; Sửa tên Mục 8050 “Chi hỗ trợ doanh nghiệp”, thành: Chi hỗ trợ doanh nghiệp và Quỹ của Nhà nước. Bổ sung Tiểu mục 8055 “Hỗ trợ, bổ sung Quỹ bảo trì đường bộ”. Sửa đổi tên và bổ sung mã số dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo: Sửa tên của Mã số 0010 “Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo”, thành: Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững. Sửa tên của Mã số 0017 “Dự án hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo”, thành: Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại minh khai hai bà trưng Bổ sung mã số Chương trình mục tiêu quốc gia Khắc phục và cải thiện ô nhiễm môi trường (mã số 0450) và bổ sung mã số các dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia Khắc phục và cải thiện ô nhiễm môi trường. Mã số 0451: Dự án khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng. Mã số 0452: Dự án cải thiện và phục hồi môi trường tại một số khu vực bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng do hoá chất bảo vệ thực vật tồn lưu. Mã số 0453: Dự án thu gom, xử lý nước thải từ các đô thị loại II thuộc ba lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, sông Cầu và hệ thống sông Đồng Nai.

Sửa đổi tên và hạch toán mã số dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia về Việc làm: Sửa tên của Mã số 0250 “Chương trình mục tiêu quốc gia về Việc làm”, thành: “Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và dạy nghề”. Đối với Dự án vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm, được hạch toán vào Mã số 0251 “Dự án vay vốn tạo việc làm”.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại thanh trì Hạch toán mã số các dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia Vệ sinh an toàn thực phẩm và Chương trình mục tiêu quốc gia Đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Đối với Dự án tăng cường năng lực hệ thống kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, được hạch toán vào Mã số 0173 “Dự án tăng cường năng lực kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm; xây dựng hệ thống giám sát ngộ độc thực phẩm, các bệnh truyền qua thực phẩm và phân tích nguy cơ ô nhiễm thực phẩm”. Đối với Dự án tăng cường năng lực cán bộ thông tin và truyền thông cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, được hạch toán vào Mã số 0431 “Dự án tăng cường năng lực cán bộ thông tin và truyền thông cơ sở”. Đối với Dự án tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống thông tin và truyền thông cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, được hạch toán vào Mã số 0432 “Dự án tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống thông tin và truyền thông cơ sở”….

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/8/2012. Đồng thời các quy định sửa đổi, bổ sung tại Thông tư này được thực hiện từ năm ngân sách 2012.
dịch vụ hóa đơn điện tử tại Quận Đống Đa Theo Tạp chí tài chính

[Read More...]


Giảm giá trị của tài sản và sự ảo tưởng về giá trị thực của các tài sản



Tài sản của đơn vị được ghi nhận theo giá mua của nghiệp vụ tại thời điểm mua. Sau đó, qua thời gian đơn vị tiến hành đánh giá lại tài sản để phản ánh giá trị hợp lý của nó trên Bảng cân đối kế toán.

Giảm giá trị của tài sản và sự ảo tưởng về giá trị thực của các tài sản trong các Doanh nghiệp tại Việt Nam
Nếu tài sản có sự giảm giá trị, khi đó sẽ phát sinh chi phí giảm giá trị của tài sản và giá trị ghi sổ sẽ được ghi giảm xuống bằng với giá trị có thể thu hồi của tài sản. Tuy nhiên, câu hỏi khi nào và như thế nào áp dụng phương pháp kiểm tra giảm giá trị của tài sản chỉ có thể được giải đáp khi áp dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 36 (IAS 36) “Giảm giá trị của tài sản”. IAS 36 là một trong các Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và được sửa đổi, cập nhật hàng năm. Nhưng IAS 36 được biết và được sử dụng nhiều hơn ở nhiều quốc gia từ 1/1/2005.

Mục đích và phạm vi của chuẩn mực

Chuẩn mực này áp dụng đối với tài sản là đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị, tài sản cố định vô hình, lợi thế thương mại, đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, công ty liên doanh. Nó có mục tiêu là đảm bảo tài sản được ghi nhận không cao hơn giá trị có thể thu hồi của tài sản.

Dấu hiệu giảm giá của trị tài sản

Chuẩn mực quy định các dấu hiệu bên ngoài và bên trong doanh nghiệp. Cụ thể, dấu hiệu bên ngoài như sự sụt giảm quan trọng giá thị trường của tài sản, sự thay đổi đáng kể ảnh hưởng không tốt cho đơn vị trong môi trường công nghệ, thị trường, kinh tế và luật pháp; tăng tỷ lệ lãi suất hoặc tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của thị trường, giá trị ghi sổ của tài sản thuần cao hơn vốn thị trường. Dấu hiệu bên trong như sự hỏng hóc và lỗi thời của tài sản, sự thay đổi đáng kể ảnh hưởng không tốt đến đơn vị như tài sản không cần dùng, hoạt động kinh tế của tài sản đã và đang trở nên tồi tệ. Khi có dấu hiệu giảm giá trị tài sản, đơn vị tiến hành kiểm tra việc giảm giá trị tài sản, ngược lại, không yêu cầu đơn vị thực hiện kiểm tra giảm giá trị tài sản.

Xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản

Phương pháp giá trị hợp lý trừ chi phí bán tài sản (gọi tắt là giá trị hợp lý): xác định giá trị hợp lý của tài sản căn cứ vào hợp đồng kinh tế, giá cả thị trường hiện tại, giá của những tài sản tương đương ... Giá trị hợp lý được hiểu là giá trị có thể thu được từ việc bán tài sản trên cơ sở trao đổi ngang giá giữa các bên trừ đi chi phí bán tài sản đó.

Phương pháp giá trị sử dụng để xác định giá trị sử dụng của tài sản, đơn vị cần ước tính luồng tiền tương lai từ việc sử dụng tài sản đó, xác định sự thay đổi có thể có về giá trị và thời gian của luồng tiền trong tương lai, giá trị thời gian của tiền và các nhân tố khác. Giá trị sử dụng được hiểu là giá trị hiện tại của luồng tiền tương lai ước tính từ việc sử dụng tài sản hay đơn vị tạo tiền.

Nếu giá trị hợp lý hoặc giá trị sử dụng cao hơn giá trị ghi sổ, thì không cần tính giá trị còn lại và khi đó tài sản không bị giảm giá trị. Nếu giá trị hợp lý không xác định được, đơn vị tiến hành xác định giá trị sử dụng của tài sản. Đối với tài sản chờ thanh lý, giá trị có thể thu hồi là giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán tài sản đó.

Dự đoán luồng tiền cần dựa trên các giả định hợp lý, nguồn ngân sách gần đây nhất và không bao gồm luồng tiền phát sinh từ tái cơ cấu doanh nghiệp hoặc cải thiện hoạt động của tài sản. Thời kỳ dự đoán thường không quá 5 năm; ước tính dự đoán luồng tiền ngoài thời kỳ dự đoán được ngoại suy dựa trên tỷ lệ tăng trưởng đều đặn hoặc giảm dần qua các năm tiếp theo.

Tỷ lệ chiết khấu và ghi nhận chi phí giảm giá trị của tài sản

Trong việc xác định giá trị sử dụng, tỷ lệ chiết khấu được sử dụng là tỷ lệ trước thuế mà nó phản ánh sự đánh giá về giá trị thời gian của tiền và rủi ro cụ thể liên quan đến tài sản hay nhóm tài sản.

Chi phí giảm giá trị của tài sản được ghi nhận trên Báo cáo kết quả kinh doanh khi giá trị thu hồi của tài sản thấp hơn giá trị ghi sổ.

Đơn vị tạo tiền (CGU)

Trên thực tế, luồng tiền được tạo ra không phải từ từng tài sản riêng biệt mà nó được tại ra bởi một nhóm tài sản được sử dụng trong đơn vị. Khi giá trị có thể thu hồi không xác định được cho từng tài sản thì nó sẽ được xác định cho từng nhóm tài sản mà chúng cùng tạo ra luồng tiền. Nhóm tài sản này gọi là đơn vị tạo tiền (CGU). Như vậy, đơn vị tạo tiền là nhóm tài sản được xác định nhỏ nhất mà nó tạo ra luồng tiền vào độc lập với luồng tiền vào từ tài sản khác hoặc nhóm các tài sản khác.

Giảm giá trị của lợi thế thương mại

Lợi thế thương mại (LTTM) được kiểm tra giảm giá trị hàng năm. Để kiểm tra giảm giá trị, LTTM được phân bổ cho CGU hay nhóm CGUs. Mỗi CGU hay nhóm CGUs mà LTTM phân bổ sẽ phản ánh mức độ nhỏ nhất trong đơn vị mà LTTM được kiểm soát cho mục đích quản trị nội bộ và không lớn hơn bộ phận kinh doanh. Khi giá trị có thể thu hồi của CGU hay nhóm CGUs thấp hơn giá trị ghi sổ, chi phí giảm giá trị được phân bổ để ghi giảm giá trị ghi sổ theo trình tự (i) đầu tiên ghi giảm giá trị ghi sổ của LTTM phân bổ cho CGU; (ii) sau đó ghi giảm giá trị ghi sổ của các tài sản trong nhóm CGU theo tỷ lệ % của tài sản đó trong CGU.

Ghi đảo ngược chi phí giảm giá trị của tài sản

Tại ngày lập Bảng cân đối kế toán, khi có dấu hiệu rằng chi phí giảm giá trị tài sản bị giảm xuống, đơn vị phải tính toán lại giá trị có thể thu hồi của tài sản. Trong trường hợp giá trị thu hồi của tài sản cao hơn giá trị ghi sổ, khi đó giá trị ghi sổ sẽ được ghi tăng lên nhưng không cao hơn nguyên giá của tài sản trước khi ghi nhận chi phí giảm giá trị của tài sản. Khi đó, khoản ghi đảo ngược đó được ghi nhận như một khoản thu nhập trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Nợ TK Tài sản/Có TK Thu nhập “ghi đảo ngược chi phí giảm giá trị của tài sản”). Tuy nhiên, nghiêm cấm việc ghi đảo ngược chi phí giảm giá trị của LTTM trong mọi trường hợp.

Trình bày

Đơn vị phải trình bày cho từng nhóm tài sản như chi phí giảm giá trị, ghi đảo ngược chi phí giảm giá trị, và trình bày trên Báo cáo kết quả kinh doanh. Đơn vị phải trình bày theo theo bộ phận kinh doanh như theo bộ phận chính yếu, chi phí giảm giá trị của tài sản, ghi đảo ngược chi phí giảm giá trị. Chuẩn mực cũng quy định trình bày cụ thể trong trường hợp chi phí giảm giá trị mang tính trọng yếu và không trọng yếu.

Sự ảo tưởng về giá trị thực của tài sản trong các doanh nghiệp tại Việt Nam

Chuẩn mực giảm giá trị của tài sản càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế khi mà tồn tại các dấu hiệu cả bên trong và bên ngoài đơn vị về sự sụt giảm giá trị của tài sản. Chính vì vậy, các đơn vị phải tiến hành xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản để bảo đảm rằng tài sản được ghi nhận không cao hơn giá trị có thể thu hồi.

Thấy được sự cần thiết trong việc áp dụng IFRS trong đó có IAS 36, rất nhiều quốc gia đã sớm áp dụng đầy đủ IFRS bắt đầu từ 1/1/2005 như Úc, Hồng Kông, các nước Châu Âu … Một số nước áp dụng muộn hơn như Malaysia từ 1/1/2006, Trung Quốc từ 1/1/2007. Rất nhiều nghiên cứu về giảm giá trị của tài sản chỉ ra rằng mức độ tuân thủ tương đối thấp và chất lượng trình bày rất kém tại các nước như Malaysia, Singapore, Anh, Úc, Hông Kông và các nước Châu Âu.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hà nam Tại Việt Nam, Bộ Tài chính cũng như Hiệp hội nghề nghiệp rất tích cực trong việc ban hành khung pháp lý về kế toán và kiểm toán để phù hợp với thông lệ phổ biến của kế toán và kiểm toán trên thế giới, trong đó có Chuẩn mực Kế toán Việt Nam. Cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng Hiệp hội nghề nghiệp cũng đã xây dựng lộ trình trong việc biên soạn mới các Chuẩn mực kế toán Việt Nam, trong đó có Chuẩn mực kế toán số 36 (VAS 36) “Giảm giá trị của tài sản”.

Khi chưa có chuẩn mực hướng dẫn thực hiện giảm giá trị tài sản, trong khi đó các chuẩn mực hiện tại như Chuẩn mực về tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình hoàn toàn không đề cập về vấn đề này. Hơn nữa, phạm vi điều tiết của chuẩn mực “Giảm giá trị tài sản” lại có sức lan tỏa rất rộng như đất đai, nhà cửa, trang thiết bị … mà những tài sản này lại chiếm tỷ trọng lớn trên tổng tài sản, đặc biệt là ở các Tổng Công ty Nhà nước.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Ngoài việc tài sản được ghi nhận theo nguyên giá và khấu hao lũy kế theo quy định hiện hành, giả sử rằng tài sản chỉ bị giảm giá trị 1% thì tình hình tài chính và kết quả kinh doanh hoàn toàn khác và câu chuyện của các nhà đầu tư cũng sẽ hoàn toàn khác. Phải chăng việc xác định giá trị thực của tài sản chỉ là ảo tưởng hão huyền trong điều kiện Việt Nam hiện nay. Điều này đang là vấn đề quan tâm và lo lắng không chỉ của cơ quan Nhà nước, nhà hoạch định chính sách, người sử dụng BCTC mà ngay cả đối với các kiểm toán viên khi đưa ra ý kiến của mình.
dịch vụ hóa đơn điện tử tại Quận Bắc từ liêm Trần Mạnh Dũng, MBA, CPA - Nghiên cứu sinh Tiến sỹ Đại học Macquarie, Australia

[Read More...]


Đến lượt ngân hàng giảm lợi nhuận



Lợi nhuận trung bình của hệ thống ngân hàng giảm. Sự phân hoá về hiệu quả kinh doanh giữa các ngân hàng ngày càng mạnh.

Dư nợ tín dụng giảm là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận của hầu hết các ngân hàng giảm. Song, khoản lỗ lớn kéo lùi kết quả kinh doanh chung của ngân hàng phần lớn đến từ các hoạt động đầu tư, trong đó điển hình là ACB với khoản lỗ kinh doanh vàng trong 9 tháng đầu năm lên tới 1.251,2 tỉ đồng.

Tín dụng giảm là thủ phạm chính

Trong số các ngân hàng báo lãi, Vietinbank vẫn dẫn đầu hệ thống với con số 2.711,9 tỉ đồng trong quý 3 năm nay, tăng 71,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngân hàng Quân đội (MB) cũng thu về 651,9 tỉ đồng lợi nhuận, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, Vietinbank và MB chỉ là “hàng hiếm” trong trong bức tranh chung của ngành ngân hàng. Các ngân hàng còn lại, lợi nhuận đều thu hẹp so với cùng kỳ năm ngoái và các kỳ trước. Như Vietcombank, lợi nhuận trước thuế quý 3 đạt 1.477 tỉ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, song luỹ kế chín tháng đạt 4.394 tỉ đồng, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, quý 3, thu nhập từ tín dụng giảm tới 25% so với quý 3/2011, lũy kế chín tháng cũng giảm 7% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân, tăng trưởng tín dụng chững lại, trong khi mặt bằng lãi suất cho vay giảm mạnh, chi phí dự phòng rủi ro tăng cao. Trong chín tháng qua, VCB đã trích lập dự phòng rủi ro 2.575 tỉ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2011. Huy động vốn của VCB cuối quý 3 tăng 15,46% so với đầu năm trong khi dư nợ cho vay là chỉ tăng 8,55% so với đầu năm cũng làm chi phí của ngân hàng đội lên.

Đây cũng là nguyên nhân chính làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng nói chung. Như ngân hàng Eximbank, tổng dư nợ tín dụng chín tháng qua giảm tới 14,6% so với cuối năm 2011; tổng thu nhập hoạt động trong chín tháng tăng 3%, trong khi chi phí hoạt động tăng 29% và chi phí dự phòng tăng 21,8%. Ngoài ra, kinh doanh vàng và kinh doanh chứng khoán không hiệu quả cũng góp phần kéo lùi lợi nhuận của ngân hàng.

Thống kê tình hình kinh doanh hợp nhất của 12 ngân hàng TMCP cho thấy, lợi nhuận bình quân của các nhà băng này đã giảm 42,9% trong quý 3 vừa qua so với cùng kỳ năm ngoái. Nhờ nửa năm đầu làm ăn tốt hơn, nên mức giảm lợi nhuận này trong chín tháng đầu năm chỉ dừng ở 11,1%.

Hay như Sacombank, lợi nhuận quý 3 cũng giảm 6,4% so với cùng kỳ, trong đó hoạt động kinh doanh chứng khoán, góp vốn mua cổ phần đã làm lỗ của ngân hàng xấp xỉ 200 tỉ đồng. So với cùng kỳ năm ngoái, lợi nhuận quý 3 của ngân hàng Bảo Việt giảm tới 84,8%, còn vỏn vẹn 5,2 tỉ đồng; ngân hàng Liên Việt giảm 81% còn 67,7 tỉ đồng; ngân hàng Nam Việt (Navibank) giảm tới hơn 87% (năm nay chỉ đạt hơn 6,5 tỉ đồng trong khi năm ngoái đạt gần 52 tỉ đồng). Đáng chú ý, hồi tháng 2 vừa qua, khi phải trích lập dự phòng rủi ro bổ sung theo yêu cầu của cơ quan thanh tra, giám sát NHNN do nợ xấu gia tăng, tài sản đảm bảo chưa hoàn tất thủ tục pháp lý..., vốn chủ sở hữu thực của Navibank chỉ còn lại 2.513 tỉ đồng, thấp hơn mức vốn pháp định tối thiểu theo quy định là 3.000 tỉ đồng. Mặc dù diễn ra từ hồi đầu năm, song đến nay, Navibank mới công khai thông tin, vì sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội yêu cầu giải trình...

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa Lỗ lớn vì kinh doanh vàng

Báo cáo kết quả kinh doanh quý 3/2012 của ngân hàng ACB ghi nhận khoản lỗ hơn 520,67 tỉ đồng, kéo lùi lợi nhuận sau thuế của ngân hàng chín tháng đầu năm chỉ còn 1.086,9 tỉ đồng. Trong khi cùng kỳ năm ngoái, ACB thu về 658,6 tỉ đồng lợi nhuận, luỹ kế chín tháng là hơn 1.858,4 tỉ đồng. Dù các hoạt động kinh doanh khác vẫn cho thu nhập tương đương cùng kỳ năm ngoái (thu nhập lãi thuần, thu nhập từ dịch vụ...), song vẫn không gánh nổi khoản lỗ lớn từ vàng. Do phải mua vàng thời điểm giá cao để chấm dứt huy động – cho vay vàng theo yêu cầu của ngân hàng Nhà nước, trong quý 3 hoạt động kinh doanh vàng của ACB lỗ 1.144,4 tỉ đồng.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hải phòng Ngân hàng SHB cũng có khoản lợi nhuận âm khá lớn: 1.105 tỉ đồng trong chín tháng đầu năm. Nguyên do là họ phải gánh những khoản lỗ lên tới 1.715 tỉ đồng từ các đơn vị kinh doanh của ngân hàng Habubank vừa mới sáp nhập, đồng thời phải trích lập dự phòng rủi ro lên tới 2.103 tỉ đồng. Tính đến 1.11.2012, ngân hàng này cũng đã thu hồi được 1.200 tỉ đồng nợ xấu, nợ quá hạn và đặt mục tiêu giảm nợ xấu của các đơn vị thuộc Habubank xuống dưới 10% vào cuối năm nay.

Còn nhiều báo cáo tài chính chưa được các ngân hàng công bố. Theo một chuyên gia tài chính, nếu các ngân hàng công khai đầy đủ, trung thực, danh sách báo cáo tài chính có lợi nhuận âm sẽ không dừng lại ở hai ngân hàng kể trên.
dịch vụ hóa đơn điện tử tại Quận Ba Đình Theo SGTT

[Read More...]


Quý IV/2012: Chu kỳ không lặp lại



Các DN đang có rất ít thời gian để tăng tốc trong cuộc đua về đích 2012. Liệu họ có thể trông đợi một sự đột phá trong quý IV này?

Bánh kẹo là một trong những ngành kỳ vọng lớn vào mùa kinh doanh cuối năm

Ngoại trừ một số DN đã về đích trước hạn hoặc gần chạm đích 2012, đa số DN đều lấy quý IV là thời điểm để tăng tốc. Thông thường, quý IV là thời điểm tăng tốc khá hiệu quả. Chẳng hạn, với ngành thực phẩm, đây là giai đoạn doanh số tăng mạnh do tốc độ tiêu thụ sản phẩm tốt hơn các quý. Vì tuy Tết cổ truyền chưa đến nhưng Noel, Tết Dương lịch là các dịp thuận lợi để DN gia tăng sức bán thực phẩm, bánh kẹo.

Còn nhớ quý IV năm ngoái, trong giải trình với HOSE về kết quả kinh doanh tăng mà lợi nhuận giảm, lãnh đạo CTCP Bibica (BBC) cho biết, nguyên nhân của doanh thu tăng 17% trong quý IV/2011 là do giá vốn hàng bán giảm trong khi giá thành bán ra lại tăng hơn 10,8% cùng kỳ. Nếu không vì các chi phí như bán hàng, quản lý DN… đều tăng, BBC đã không sụt giảm lợi nhuận. Trong quý IV năm nay, BBC đặt mục tiêu lợi nhuận 30 tỷ đồng, tức gần gấp ba mức lãi mà Công ty đã đạt được trong 9 tháng đầu năm. Mục tiêu này được BBC đưa ra trên cơ sở yếu tố mùa vụ. Phía CTCP Kinh Đô (KDC) thì cho biết, lợi nhuận của KDC sẽ tiếp tục ổn định đến cuối năm. KDC dự kiến đưa ra thị trường hơn 3.800 tấn bánh kẹo các loại, tăng 20% sản lượng trong mùa lễ tết năm nay.

Một số ngành như bất động sản, thủy sản cũng hay trông đợi vào yếu tố mùa vụ cuối năm. Tuy nhiên, trái với ngành thực phẩm, diễn biến ở thị trường bất động sản, thủy sản có những khác biệt lớn so với quý IV các năm. Liên quan đến lực cầu trên thị trường bất động sản, Công ty Tư vấn bất động sản Knight Frank cho rằng, từ tháng 10 trở đi, sức mua căn hộ có chiều hướng tăng lên. Nhưng thay vì đối tượng giao dịch trên thị trường bất động sản phong phú vào dịp cuối năm, năm nay khách mua căn hộ sẽ chủ yếu là người có nhu cầu ở thực sự. Các khách hàng cũng chỉ hướng sự chú ý đến phân khúc căn hộ giá dưới 2 tỷ đồng, có diện tích từ 55 m2 đến dưới 100 m2 và trong diện dự án đã hoàn thành hoặc sắp bàn giao. Vì thế, những DN nào đang triển khai những dự án đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ có cơ hội cải thiện tình hình kinh doanh.

Nhìn lại tình hình xây dựng dự án ở các DN bất động sản niêm yết, số DN đã và đang tiến hành bàn giao căn hộ cho khách hàng như Sacomreal, ThuDuc House… không nhiều. Đặc biệt, nhiều đơn vị như Phát Đạt, Vạn Phát Hưng… vẫn còn bị kẹt trong các dự án thuộc phân khúc cao cấp. Mặc dù các DN này đã kịp thời điều chỉnh và chuyển hướng mở rộng sang phân khúc trung bình thấp, nhưng sẽ mất thêm một thời gian nữa để DN đầu tư, tạo sản phẩm hợp nhu cầu. Trong thời gian đó, các chuyên gia dự báo, ngoài bài toán tạo doanh thu, lợi nhuận, những DN này sẽ chịu nhiều áp lực về dòng vốn và chi phí tài chính.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Tương tự, năm nay tình thế đã đảo ngược ở ngành thủy sản. Tiêu thụ cá tra, tôm xuất khẩu vẫn chậm, bất chấp mùa Giáng sinh, Tết tây đang đến. Theo thống kê của Sở NN-PTNT Đồng Tháp, tại địa phương này, vẫn còn khoảng 780 héc-ta cá tra chưa thu hoạch. Các DN không mặn mà sản xuất một phần vì nhu cầu xuất khẩu giảm, nhưng quan trọng là kể cả bán được hàng, DN vẫn bị lỗ.

Theo chia sẻ của lãnh đạo một DN thủy sản, nếu như trước đây Đồng bằng sông Cửu Long có 17 DN và 23 nhà máy chế biến xuất khẩu cá tra thì nay, con số nhà máy chế biến xuất khẩu cá tra chỉ còn lại 6 đơn vị. Làm ăn thua lỗ và thiếu vốn khiến nhiều nhà máy phải tạm đóng cửa. Ngay CTCP Hùng Vương - một DN hàng đầu ngành thủy sản - cũng phải giảm công suất nhà máy xuống 50%.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại thanh trì Trong ngành khoáng sản, ngoại trừ BMC, HGM, KSB…, những DN còn lại cũng đang hụt hơi trong cuộc đua về đích. 5 DN trong tổng 18 DN khoáng sản niêm yết đã bị thua lỗ trong 9 tháng 2012. Thua lỗ nặng nhất thuộc về BKC, kế đó là MIC, MMC, MIM và KSS. Quan trọng là các DN này khó hy vọng bứt phá vào quý IV này, bởi nhìn trên kết quả kinh doanh từ quý IV/2011 trở lại đây, nhà đầu tư chỉ thấy sự sa sút kéo dài về doanh thu, lợi nhuận so với các quý trước đó. Thậm chí, MIC còn trượt dài trong thua lỗ. Nếu MIC hay KTB không có nguồn thu từ tài chính kéo lại, chắc chắn đã thua lỗ nặng nề hơn.

Rõ ràng, đã có những diễn biến bất thường trong mùa kinh doanh cuối năm nay của các DN. Vì thế, một hy vọng DN lội ngược dòng hoặc bứt phá mạnh mẽ trong quý IV năm nay gần như khó xảy ra. Trên thực tế, những ngành nghề nào, những DN nào nổi bật, có khả năng tạo bứt phá và về đích tốt đều đã ít nhiều thể hiện trong kết quả kinh doanh ở các quý trước đó.
dịch vụ hóa đơn điện tử tại quận thủ đức Theo Tinnhanhchungkhoan

[Read More...]


Vinafood 1 thoái vốn tại các ngân hàng



Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh vừa phê duyệt Phương án Tái cơ cấu Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) giai đoạn 2012 - 2015 và Phương án cổ phần hóa Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam (Vilico).

Mặc dù vốn điều lệ của Vinafood 1 chưa được phê duyệt (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vốn điều lệ của Vinafood 1 sau khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Bộ Tài chính thẩm định), nhưng theo Quyết định 1894/QĐ-TTg, trong giai đoạn 2012 - 2015, Vinafood 1 vẫn tiếp tục kinh doanh 2 ngành nghề chính là lương thực (thu mua, bảo quản, chế biến, bán buôn, bán lẻ, dự trữ, lưu thông lương thực, thực phẩm, nông sản; xuất - nhập khẩu lương thực, nông sản, vật tư nông nghiệp, phân bón; sản xuất, kinh doanh và xuất - nhập khẩu các loại nguyên liệu, thành phẩm thức ăn chăn nuôi gia súc…) và ngành muối (sản xuất, chế biến, thu mua, bán buôn, bán lẻ, xuất - nhập khẩu muối, hóa chất làm muối…).

Bên cạnh đó, Vinafood 1 còn được kinh doanh ngành, nghề có liên quan đến ngành, nghề kinh doanh chính như sản xuất, tái chế phế liệu, phụ phẩm của chế biến lúa gạo, muối; sản xuất trấu ép viên, trấu ép ván; sản xuất chế biến các loại bánh, kẹo; cho thuê tài sản, nhà kho, văn phòng làm việc...

Từ nay đến năm 2015, Vinafood 1 tiếp tục duy trì 7 chi nhánh, trong đó, Chi nhánh Tân Dương (Đồng Tháp) sẽ liên doanh với Tập đoàn Louis Dreysfus Commodities Pte Ltd để thành lập Công ty TNHH khi đủ điều kiện; nắm giữ 100% vốn điều lệ tại 2 công ty TNHH một thành viên; nắm giữ trên 65 % vốn điều lệ tại 10 công ty cổ phần; nắm giữ trên 50% đến 65% vốn điều lệ tại 17 công ty cổ phần; và nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ tại 11 đơn vị khác.

Ngoài ra, Vinafood 1 còn được thành lập thêm một số chi nhánh và văn phòng đại diện hoặc chi nhánh ở nước ngoài để mở rộng hoạt động xuất khẩu lương thực, nông sản và muối.

Cũng theo heo Quyết định 1894/QĐ-TTg, đến hết năm 2015, Vinafood 1 phải hoàn thành thoái 100% vốn tại Vietcombank, Vietinbank, Eximbank, Công ty cổ phần Tập đoàn Muối miền Nam, Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Nam Định…

Mục tiêu tái cơ cấu Vinafood 1 được đặt ra là trong giai đoạn 2012 – 2015 phải bảo đảm có cơ cấu hợp lý, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh lương thực, sản phẩm muối; góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, an ninh về muối; nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và khả năng cạnh tranh; tăng cường liên kết 4 nhà (Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông) để bảo đảm quy trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ thống nhất và khép kín.

Theo số liệu của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2011, với số nợ phải thu khó đòi lên đến 251 tỷ đồng, Vinafood 1 là 1 trong số 11 tập đoàn, tổng công ty có nợ phải thu khó đòi lớn nhất (chỉ đứng sau PVN, Sông Đà và Vinacomin). Công ty mẹ của Vinafood 1 cũng là một trong số công ty mẹ có tỷ lệ nợ phải thu/tổng tài sản cao nhất (trên 40%) với số nợ phải thu lên đến gần 7.583 tỷ đồng, tương đương 61% tổng tài sản.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Tuy nhiên, cũng theo số liệu của Bộ Tài chính, với mức lợi nhuận 724 tỷ đồng, năm 2011, Vinafood 1 được đánh giá là một trong những tập đoàn, tổng công ty hoạt động hiệu quả nhất.

Theo Quyết định 1893/QĐ-TTg về việc phê duyệt Phương án cổ phần hóa Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam (Vilico). Công ty cổ phần Vilico có vốn điều lệ 765 tỷ đồng, trong đó, Nhà nước nắm 64%, người lao động trong doanh nghiệp được mua cổ phần với giá ưu đãi nắm giữ 1,1%, các đối tượng khác (cổ phần của Vilico được bán đấu giá công khai) nắm giữ 34,9% vốn điều lệ.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông Công ty cổ phần Vilico tiếp tục kinh doanh các ngành, nghề mà Vilico đang kinh doanh và các ngành nghề kinh doanh khác theo quy định của pháp luật.

Cũng theo Phương án cổ phần hoá Vilico, 379 người lao động sẽ được chuyển sang làm việc tại Công ty cổ phần Vilico, số lao động dôi dư chỉ có 30 người, trong đó 21 người được giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

Bộ Tài chính cho biết, với tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu đạt trên 42%, năm 2011, xét trên tiêu chí này, Vilico là 1 trong 3 tập đoàn, tổng công ty đạt hiệu quả cao nhất, chỉ đứng sau Tổng công ty 15 (đạt tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu gần 44,5%) và Viettel (43,5%).
dịch vụ hóa đơn điện tử tại hải phòng Theo Baodautu

[Read More...]


Dồn sức thu ngân sách qua xuất nhập khẩu



Tính đến ngày 10-12-2012, số thu NSNN của toàn ngành Hải quan đạt 180.209 tỷ đồng, bằng 80,5% so với dự toán.


Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng KV3. Ảnh: Q.Hùng

Trong những ngày cuối của tháng 12, tình hình thu NSNN càng trở nên căng thẳng. Nếu như cùng kỳ các năm trước là thời điểm các DN tập trung nhập hàng về để chuẩn bị cho sản xuất đầu năm sau, thì ở thời điểm này kim ngạch XNK rất thấp.

Tìm giải pháp hiệu quả

Có thể thấy, năm 2012 tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn, đã tác động rất lớn đến kim ngạch XNK. Và hệ quả rõ nét nhất là số thu NSNN của ngành Hải quan, dù đã rất nỗ lực thực hiện quyết liệt nhiều nhóm giải pháp nhưng không thể hoàn thành chỉ tiêu đã đề ra.

Trong phần lớn thời gian của năm 2012, Tổng cục Hải quan đã đôn đốc các đơn vị trong toàn ngành đánh giá số thu của những tháng đã thực hiện và những tháng cuối năm một cách chính xác, không bỏ sót nguồn thu, phân tích kỹ các yếu tố tăng và giảm thu, so sánh tốc độ thu các năm trước với dự toán. Song song với đó là tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hải quan, quản lý thuế, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động XNK, giảm thời gian thông quan, giảm chi phí cho DN…

Đặc biệt, để quán triệt nhiệm vụ thu NSNN, đoàn đôn đốc thu của Tổng cục Hải quan đã tới hải quan các địa phương để quán triệt nhiệm vụ thu NSNN năm 2012, yêu cầu các địa phương nỗ lực phấn đấu thực hiện các giải pháp chống thất thu để hoàn thành chỉ tiêu thu NSNN. Cùng với đó, đoàn kiểm tra hướng dẫn nghiệp vụ cũng tới từng địa phương thực hiện việc kiểm tra chính sách thuế, thủ tục hải quan quản lý thuế, xử phạt vi phạm, chú trọng các địa phương, DN có số thu lớn, nợ thuế cao, loại hình phức tạp, nhiều mặt hàng nhạy cảm, nợ mới phát sinh tăng…

Bên cạnh đó, việc rà soát, thống kê, tổng hợp số tiền thuế đã thu, phải thu, số thuế còn nợ trên tài khoản chuyên thu, tạm thu, xác định rõ số nợ của từng nhóm nợ, thời gian nợ, DN nợ… để đưa ra các giải pháp thu nợ thuế phù hợp, đảm bảo thực hiện thu hồi 100% các khoản nợ phát sinh trong năm 2012, không để phát sinh nợ mới… cũng đã được hải quan các địa phương thực hiện nghiêm túc.

Quán triệt nhiệm vụ thu NSNN, 34 cục hải quan trên toàn quốc đã nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ chính trị này. Trong đó có thể nhận thấy một số cục Hải quan có những biện pháp thu NSNN rất hiệu quả như các Cục Hải quan: Quảng Ninh, TP.HCM, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Hải Phòng, Hà Nội….

Đơn cử như tại Hải quan Đồng Nai, song song với công tác cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK, Cục cũng đã xác định công tác kiểm soát chống buôn lậu, gian lận thương mại góp phần chống thất thu thuế, tăng thu cho ngân sách. Đồng thời, Cục cũng đã thực hiện tốt công tác phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn như Công an, Quản lý thị trường… trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu, gian lận thương mại và các hành vi vi phạm pháp luật khác thông qua các quy chế phối hợp đã được ký kết. Để quản lý chặt chẽ các DN trên địa bàn, Cục đã tổ chức họp thống nhất các tiêu chí quản lý DN, trên cơ sở đó xây dựng bộ tiêu chí thống nhất để nắm bắt, quản lý các DN trên địa bàn một cách đầy đủ, chặt chẽ…

Cách làm này cũng đã được một số cục hải quan khác áp dụng và đã đạt được hiệu quả cao trong công tác thu NSNN.

Dồn sức cho số thu

Với những nỗ lực hết mình của toàn ngành Hải quan trong công tác thu NSNN cũng khó có thể “vượt bão”, khi mà Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vào thời điểm đầu tháng 12-2012 công bố con số, năm 2012 này ước khoảng 55.000 DN phá sản. Một “bức tranh” không sáng sủa về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng tới số thu đối với hoạt động XNK mà còn hệ luỵ tới việc xử lý nợ thuế của ngành Hải quan. DN làm ăn thua lỗ, phá sản, giải thể, bỏ trốn gia tăng, đây là bài toán khó giải khi thực hiện nhiệm vụ thu đòi nợ thuế của ngành Hải quan trong năm nay.

Để nắm bắt một cách sát sao tình hình thu ngân sách, ở gần thời điểm cuối năm Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ đã làm việc với UBND TP Hà Nội và TP.HCM - hai địa bàn có số thu lớn. Cùng với đó, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cũng đã trực tiếp làm việc với Cục Hải quan Quảng Ninh và Cục Hải quan Hải Phòng. Và trong những ngày còn lại của tháng 12, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc đã trực tiếp đến các đơn vị hải quan phía Nam chỉ đạo tăng tốc thu NSNN. Tại các cục hải quan phía Bắc, Phó Tổng cục trưởng Hoàng Việt Cường đã trực tiếp chỉ đạo công tác thu này.

Và mới đây nhất, để phấn đấu thu hồi nợ và hoàn thành dự toán thu NSNN, ngày 15-12 Tổng cục Hải quan đã có công văn hướng dẫn cục hải quan các tỉnh, thành phố thành lập ngay tổ đôn đốc thu hồi nợ thuế tới từng DN có nợ thuế quá hạn để yêu cầu các DN thực hiện nộp ngay vào NSNN trong tháng 12. Đồng thời, với số tiền thuế phải thu, các đơn vị đôn đốc DN nộp hết vào NSNN. Các đơn vị hải quan đã lập kế hoạch triển khai một cách cụ thể.

Với những nỗ lực hết mình, toàn ngành Hải quan đang dồn sức chạy đua với thời gian để đạt số thu NSNN cao nhất.

Cục trưởng Cục Hải quan Hà Nội Nguyễn Văn Trường: Động viên DN nộp thuế

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức Số thu NSNN của Cục Hải quan Hà Nội bị ảnh hưởng nhiều bởi sức tiêu thụ rất chậm của một số mặt hàng đóng góp số thu lớn như: Ô tô, xe máy, hàng điện tử…; thuế GTGT thu được từ mặt hàng máy móc thiết bị tạo tài sản cố định của các dự án ưu đãi đầu tư giảm do các dự án của một số DN lớn giảm. Trong thời gian qua, đơn vị đã bám sát các yếu tố ảnh hưởng đến số thuế: Mã hàng, C/O, lượng hàng, trị giá hàng, chính sách thuế và thực hiện rất nhiều giải pháp để thực hiện. Giai đoạn nước rút này, Cục Hải quan Hà Nội tập trung động viên DN nợ thuế trong tháng nộp trước. Tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong quá trình làm thủ tục, cố gắng động viên các dự án, nhất là các dự án lớn khẩn trương hoàn thành kế hoạch, thực hiện hoạt động NK máy móc, thiết bị để tăng thu.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại từ liêm Phó Cục trưởng Cục Hải quan Hải Phòng Trần Văn Hội: Chủ động giúp đỡ giải quyết vướng mắc DN

Đối với Cục Hải quan Hải Phòng, để số thu NSNN đến cuối năm đạt được cao nhất, đơn vị tập trung vào giải pháp tạo điều kiện và thu hút DN. Trong đó, đẩy mạnh việc nắm bắt nhu cầu thông tin của DN; chủ động gặp gỡ để giải quyết vướng mắc với từng DN và động viên DN không chỉ đến làm thủ tục mà còn làm đúng quy định và nộp thuế đúng hạn. Tuy nhiên, trong việc thực hiện các giải pháp thu NSNN, Cục Hải quan Hải Phòng đã gặp vướng mắc trong việc đôn đốc thu hồi nợ khi yêu cầu các ngân hàng thực hiện nghĩa vụ đối với các thư bảo lãnh do ngân hàng phát hành. Do vậy, Cục Hải quan Hải Phòng kiến nghị Bộ Tài chính cần làm việc với Ngân hàng Nhà nước để thống nhất nội dung bảo lãnh và yêu cầu ngân hàng chịu trách nhiệm đến cùng đối với số tiền thuế mà tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh theo đúng quy định tại Luật Quản lý thuế.
dịch vụ hóa đơn điện tử tại Quận Hà Đông Theo Baohaiquan

[Read More...]


Làm khó doanh nghiệp



Sự “tích tụ” của chênh lệch giữa mức tăng giá thành sản xuất thấp hơn giá bán sản phẩm cuối cùng, theo thời gian đang làm gia tăng khó khăn cho DN. Trong khi đó, việc tăng giá tiếp theo với các mặt hàng nguyên, nhiên vật liệu vẫn còn để ngỏ và lộ trình giá thị trường như “án treo” với nhiều DN, trong bối cảnh triển vọng kinh doanh chưa thuận lợi.

“Sản xuất công nghiệp năm nay gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu chưa được hồi phục, sức mua trong nước và nhu cầu xuất khẩu giảm nên mức tăng thấp so với một số năm trở lại đây”, Tổng cục Thống kê giải thích như vậy trong một báo cáo phát đi đầu tuần này.

Về mặt con số, chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2012 chỉ tăng 4,8%. Nếu so với mức tăng của năm 2010 là 8,8%, năm 2011 tăng 7,3% thì tình hình sản xuất có biểu hiện khó khăn “khác lạ”.


Lộ trình tăng giá điện như “án treo” với nhiều DN

“Càng làm nhiều càng lỗ nhiều”, giám đốc một DN sản xuất sản phẩm cơ khí nói với Thời báo Ngân hàng.

Số DN thua lỗ phá sản đang tăng lên từng ngày. Sức ép từ thị trường tiêu thụ co hẹp đang “ép” các DN vào tình huống lựa chọn khó khăn, đó là giảm giá bán để “thu vén” về nguồn tài chính cuối cùng trước khi thời điểm cuối năm đến với các yêu cầu thanh toán nợ.

“Nhiều chương trình khuyến mại được các DN đưa ra trong thời gian này nhưng sức mua vẫn không được cải thiện nhiều”, trong vài tháng nay các báo cáo của cơ quan thống kê địa phương dồn dập gửi về Tổng cục Thống kê những thông tin như vậy.

Riêng với lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, chỉ số sản xuất cả năm 2012 tăng 4,5% so với năm ngoái, trong khi chỉ số tiêu thụ tương ứng chỉ tăng 3,6%.

Chính phủ nhìn nhận, tồn kho cao đang gây khó khăn cho DN. Chính vì vậy, nhiều chính sách hỗ trợ về tài chính, thúc đẩy tiêu dùng hàng Việt Nam được đề cao. Kết quả là chỉ số tồn kho tại thời điểm 1/12/2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,1% so với cùng thời điểm năm trước, dù có thấp hơn nhiều thời điểm trước đó nhưng quan ngại vẫn còn.

Nhưng trong dòng chảy đó, việc giải thoát hàng tồn của DN trong thời gian qua đem đến nhiều hệ lụy. Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất trong năm 2012 đã tăng 9,04% so với năm trước, mức tăng thấp hơn con số 9,21% của chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2012 trong so sánh với năm 2011.

Tuy nhiên, các con số trên chưa bao gồm chi phí cho khâu lưu thông, phân phối. Bởi vậy, rất nhiều báo cáo của các hiệp hội, ngành nghề nêu bất cập này, khi giá bán của nhà sản xuất không theo kịp với chi phí đầu vào.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Các phân tích cho thấy, sức ép từ tăng giá nguyên, nhiên vật liệu đang làm khó cho DN thông qua tăng giá thành sản xuất và cả khâu lưu thông phân phối. Theo tính toán, mức tăng 5% của giá điện bình quân vừa được ban hành sẽ tác động lên làm tăng chỉ số giá tiêu dùng 0,26%. Với xăng dầu, với mỗi 1% tăng giá ước tính có thể tác động làm tăng CPI khoảng 0,11%.

Đề cập đến quy định mỗi quý được tăng giá điện một lần, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Đỗ Thức nhìn nhận, đây là mức tăng khá cao, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của DN và đời sống người dân.

Sự “tích tụ” của chênh lệch giữa mức tăng giá thành sản xuất thấp hơn giá bán sản phẩm cuối cùng, theo thời gian đang làm gia tăng khó khăn cho DN. Trong khi đó, việc tăng giá tiếp theo với các mặt hàng nguyên, nhiên vật liệu vẫn còn để ngỏ và lộ trình giá thị trường như “án treo” với nhiều DN, trong bối cảnh triển vọng kinh doanh chưa thuận lợi.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông Tổng cục Thống kê trong một văn bản gửi đến báo chí khuyến nghị tăng cường kiểm tra, thanh tra các ngành, tập đoàn, tổng công ty, DN để tránh hiện tượng độc quyền, chuyển giá, đặt lợi ích ngành cao hơn lợi ích quốc gia gây mất ổn định vĩ mô. “Cần thực hiện điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý theo lộ trình một cách linh hoạt và ở mức hợp lý...”, cơ quan này nhìn nhận.

Hàng chục nghìn DN đang thua lỗ chờ đợi chính sách hỗ trợ nhất quán ngay ở những ngành liên quan trực tiếp đến sản xuất như điện, xăng dầu...
dịch vụ hóa đơn điện tử tại hải phòng Theo Thoibaonganhang

[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page